Do có một số hiểu biết nhất định về pháp luật, nên nhìn chung đại bộ phận học sinh, sinh viên nớc ta hiện nay có ý thức tôn trọng, chấp hành nội quy, quy chế của nhà tr-
ờng, các quy tắc cuộc sống cộng đồng cũng nh các quy
định của pháp luật. Bên cạnh đó, còn có một bộ phận học sinh, sinh viên có biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, thậm chí phạm tội nghiêm trọng.
Trong các trờng phổ thông, một số học sinh đã thực hiện hành vi phạm pháp nh ăn cắp ví dụ vụ 3 em học sinh lớp 8 tr- ờng Trng Vơng - Hà Nội tổ chức lấy trộm 38 chiếc xe đạp của các bạn học sinh gửi trong trờng, bị phát hiện tháng 3 năm 1995. Nguy hiểm hơn là xuất hiện nhiều vụ học sinh mang hung khí đến trờng đánh nhau ở trong và ngoài trờng.
Nhiều khi chỉ từ những va chạm, xích mích nhỏ với nhau, học sinh cũng có thể đánh nhau, giải quyết với nhau bằng
“luật rừng”gây rối trật tự trờng lớp và công cộng, thậm chí có trờng hợp còn đa đến án mạng.
Nh vụ 2 học sinh phổ thông cơ sở Phan Thiêt số 4 đã
đâm chết một học sinh của trờng phổ thông cơ sở Phan Thiết số 7 tại buổi cổ vũ bóng đá của hai trờng với nhau [1].
Đặc biệt nghiêm trọng hơn là việc học sinh đánh, chửi cả
thầy, cô giáo và có trờng hợp giết cô giáo, nh vụ một học sinh lớp 8 trờng phổ thông cơ sở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội đã
dùng dao đâm chết cô giáo ngay trên bục giảng (năm học 1994-1995). Đó là điều xa nay cha từng có, đã làm xôn xao d luận, là tiếng chuông báo động cho nền giáo dục nớc nhà.
Từ đó đặt ra vấn đề phải tăng cờng giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho học sinh; tăng cờng trách nhiệm của các bậc phu huynh, của nhà trờng và toàn xã hội trong việc nuôi dỡng, giáo dục các em học sinh trong giai đoạn hiện nay.
ở các trờng đại học, cao đẳng sinh viên có tuổi đời cao hơn, có học vấn cao hơn và kinh nghiệm sống nhiều hơn học sinh phổ thông, do đó nói chung việc am hiểu và tuân thủ pháp luật cũng khá hơn, các vụ vi phạm pháp luật hàng năm có ít hơn. Thực tế cho thấy phần lớn các đối tựơng pham tội có trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật hạn chế. Qua điều tra 1.211 phạm nhân đã thành án trong các trại giam do bộ công an quản lý có tới 10,73% kẻ phạm tội mù chữ; 72,73% học lớp 1 - 8 ; 14,94% học cấp III mà chỉ có 0,57% là sinh viên [48, tr. 30]
Về số lợng tội phạm, theo số liệu trong đề tài KX - 04 -14 về “tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” cho thấy thành phần phạm tội trong giai đoạn 1986 -1993 với tỷ lệ (% phạm tội) nh sau: [2, tr.21] nông dân 20,39;
công nhân viên chức 16,86; học sinh sinh viên 1,25; bộ đội 0,83; công an 0,22; lu manh 27,91; không nghề nghiệp 32,54.
Nh vậy, trong tổng số ngời phạm tội từ 1986 đến 1993, số học sinh, sinh viên đã phạm tội chiếm 1,25%. Trong những
năm gần đây, tội phạm trong khối học sinh, sinh viên cũng ở mức độ đáng chú ý. Theo số liệu thống kê của viện kiểm sát nhân dân tối cao cho thấy tỷ lệ giữa số học sinh, sinh viên bị khởi tố so với số ngời bị khởi tố hình sự hàng năm trong cả nớc luôn chiếm từ 0,54% đến 0,66% [47, tr.10]. Con số này tuy rất thấp nhng cũng là điều phải quan tâm. Bởi vì
học sinh, sinh viên là những thanh niên đợc sinh ra và lớn lên trong chế độ xã hội mới, đợc giáo dục và có trình độ nhận thức nhất định, sẽ là những trí thức tơng lai, lẽ ra những hành vi tiêu cực, đặc biệt là hành vi phạm tội phải không có và không thể có ở những con ngời này, nhng trái lại điều đó vẫn xảy ra. Nh chúng ta đã biết, khi có hành vi phạm tội thì
phải bị điều tra, xem xét giải quyết và xử lý theo pháp luật.
Dù với hình thức xử lý nào cũng để lại dấu ấn không tốt đẹp cho ngời thanh niên mới lớn lên, mới bớc vào đời, cha kể tới những hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khi bị xử lý buộc phải áp dụng biện pháp cứng rắn, phải sử dụng hình phạt giam tách họ khỏi đời sống xã hội, buộc họ vào cải tạo, thi hành án trong tình trạng cỡng chế nghiêm khắc thi dấu ấn sẽ theo họ suốt đời. Có trờng hợp sinh viên bị xử án ở mức cao nhất (tử hình) nh vụ Phạm Kiến Ngọc - Sinh viên hệ B trờng Cao đẳng kiểm sát phạm tội giết ngời, cớp tài sản công dân [47, tr.11].
Xét về cơ cấu tội phạm do học sinh, sinh viên gây ra cho thấy họ đã phạm tất cả các loại tội đợc quy định trong Bộ luật Hình sự. Trong đó, tỷ lệ (%) học sinh, sinh viên phạm từng tội so với tổng số học sinh, sinh viên đã bị khởi tố về tất cả các loại tội nh sau: tội trộm cắp tài sản của công dân 21,0; tội cố ý gây thơng tích 12,1; tội trộm cắp tài sản xã
hội chủ nghĩa 7,5; tội cớp tài sản của công dân 6,0; tội gây rối trật tự công cộng 4,7; tội cỡng đoạt tài sản của công dân 3,9 ;tội giết ngời 3,5; tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải 2,8; tội hiếp dâm 2,0; tội đáng bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc 1,0. [4, tr.15]
Nhìn vào số liệu phân tích ở trên cho thấy hai tội trộm cắp tài sản của công dân và cố ý gây thơng tích có tỷ lệ số lợng phạm tội cao nhất. Nhng đây là những tội ít nghiêm trọng, có phần đơn giản, không mang tích chất tái phạm hoặc thuộc dạng lu manh chuyên nghiệp. Phần đông trong số họ là phạm tội lần đầu. Điều này phản ánh đúng tâm lý và bản chất của thanh niên là bồng bột, cha chính chắn, hành động mang tính nhất thời, do đó không đáng lo ngại lắm đối với loại tội phạm này. Trái lại, ở loại tội hiếp dâm và
đánh bạc, gá bạc tuy chiếm tỷ lệ rất thấp nhng tỷ lệ này
đang tăng lên hàng năm và đây là vấn đề phải suy nghĩ, lo lắng. Vì đó là biểu hiện của sự xuống cấp, sự suy đồi đạo
đức, sự thách thức với pháp luật trong khối học sinh, sinh viên những chủ nhân tơng lai của đất nớc.
Tội gây rối trật tự công cộng và tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông xảy ra trong khối học sinh, sinh viên những năm gần đây cho thấy ý thức công cộng và sự hiểu biết pháp luật của họ còn thấp. Theo báo cáo của Cục Cảnh sát giao thông - trật tự về 15 ngày chống đua xe mô tô trái phép trên địa bàn Hà Nội (từ 31/3 đến 4/4/1996), trong tổng số đối tợng bị bắt giữ để xử lý đã vi phạm: điều khiển xe chạy tốc độ cao lạng lách, đánh võng; dàn hàng ngang 3-4 xe đua tốc độ; dàn hàng ngang gây cản trở giao thông; điều khiển xe đuổi nhau trên đờng... thì số học sinh, sinh viên chiếm 27,6%, trong đó sinh viên là 8,5% và học sinh phổ thông trung học là 19,1%
Nguyên nhân của tình trạng phạm pháp, phạm tội trong khối học sinh, sinh viên có nhiều nổi bật là các nguyên nhân sau:
Chơng 20 Điều kiện kinh tế khó khăn làm cho một số học sinh, sinh viên phải bỏ học giữa chừng hoặc vừa học, vừa tìm việc làm vất vả để kiếm tiền chi phí cho học tập, sinh hoạt hàng ngày. Điều này không những ảnh hởng
đến việc học tập mà còn dẫn đến tình trạng một số sinh viên bị lôi kéo vào con đờng kiếm tiền không lơng thiện,
thậm chí trộm cắp tài sản của bạn bè, của những gia đình xung quanh nơi mình đang sống hoặc trộm cắp tài sản của nhà nớc, tập thể.
Chơng 21 Bản thân một số học sinh, sinh viên thiếu sự tu dỡng rèn luyện, phấn đấu thờng xuyên, bị ảnh hởng lối sống thực dụng và sự xuống cấp nghiệm trọng của đạo
đức xã hội.
Chơng 22 Thiếu sự phối hợp quan tâm giáo dục, dạy dỗ và quản lý của gia đình, nhà trờng và các tổ chức xã hội
đối với học sinh, sinh viên.
Chơng 23 Công tác giáo dục pháp luật còn thiếu hệ thống và cha đồng bộ, thờng xuyên trong nhà trờng, cha xây dựng đợc ý thức tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật cũng nh thái độ đấu tranh chống tiêu cực, tội phạm của toàn thể học sinh, sinh viên.
Từ thực trạng và nguyên nhân vi phạm pháp luật, phạm tội của học sinh, sinh viên nh đã nêu trên, đòi hỏi các cấp, các ngành nhất là ngành giáo dục và đào tạo mà trực tiếp là các trờng cao đẳng cần quan tâm hơn nữa việc quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên đặc biệt là việc giáo dục pháp luật trong nhà trờng.
Từ sự so sánh ở trên giữa học sinh và sinh viên về tình hình thực hiện pháp luật tác giả cho thấy cần phải xây dựng
một chơng trình giáo dục pháp luật theo các cấp bậc học mang tính chất bắt buộc trong chơng trình đào tạo để mọi đối tợng có thể nắm bắt hiểu biết pháp luật theo một hệ thống, nhất là đang trong thời kỳ xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
2.4.2 Công tác giáo dục pháp luật trong nhà trờng cao
đẳng hiện nay
Sinh viên tốt nghiệp cao đẳng sẽ trở thành lực lợng lao
động quan trọng trong nền kinh tế mới. Để có thể trở thành một công dân tốt và ngời lao động có chất lợng và hiệu quả
trớc hết cần phải là ngời chấp hành pháp luật trong khi còn là sinh viên, khi ra trờng, trong cuộc sống làm việc và trong suốt chặng đờng còn lại. Điều này thể hiện ở thái độ của sinh viên qua học tập và lao động. Rõ ràng một sinh viên ý thức chấp hành pháp luật kém thì dù có giỏi đến đâu đi nữa cũng khó có khả năng kiếm đợc việc làm trên thị trờng lao
động. Ngời tuyển dụng không chỉ quan tâm đến các kỹ năng kỹ thuật mà còn rất quan tâm đến các kỹ năng phi kỹ thuật mà hiểu biết và vận dụng luật pháp là một trong những kỹ năng nh thế. Vậy làm thế nào để tăng cờng và cải thiện công tác giáo dục pháp luật trong nhà trờng cao đẳng?
theo tôi có thể có những vấn đề sau đây cần đợc quan t©m.
Chơng 24 Ngời giáo viên dạy bộ môn pháp luật nói riêng và cán bộ giáo viên trong trờng cần là ngời gơng mẫu trong việc thực hiện pháp luật. Việc giáo dục pháp luật không phải chỉ bó hẹp trong những bài giảng trên lớp mà mọi hành vi tác phong và thái độ chấp hành qui chế của cán bộ giáo viên cũng cần phải rất mẫu mực để sinh viên có thể soi mình vào những tấm gơng chấp hành pháp luật của ngêi thÇy.
Chơng 25 Lãnh đạo nhà trờng cần tạo dựng môi trờng văn hóa chấp hành pháp luật trong cán bộ giáo viên và sinh viên. Giữ nghiêm kỷ cơng nền nếp để mọi ngời có thói quen chấp hành pháp luật. Việc học pháp luật sẽ không có hiệu quả cao nếu mọi nỗ lực chỉ tập trung vào ngời giáo viên dạy pháp luật.
Chơng 26 Đối với ngời giáo viên pháp luật cần không ngừng trau dồi kiến thức và hiểu biết của mình về những vấn đề liên quan đến pháp luật. Đồng thời tìm tòi và vận dụng những phơng pháp giảng dạy để đạt đợc hiệu quả
cao trong mỗi bài giảng, tạo cho sinh viên hứng thú say mê môn học pháp luật. Đối với không ít ngời, môn học pháp luật nếu áp dụng kỹ thuật dạy học không tốt sẽ trở nên khô khan
sinh viên khó tiếp thu. Nhng nếu áp dụng kỹ thuật dạy học tích cực thêm vào với những ví dụ thực tiễn hoặc có những buổi đi thực tế tại toà chắc chắn bài học sẽ trở nên lý thú và cuốn hút ngời học.
Chơng 27 Kinh nghiệm cho hay hầu hết các hoạt động nghề nghiệp trong xã hội đều đợc điều chỉnh bằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, đối với từng ngành đào tạo ngời giáo viên dạy pháp luật cần phải tìm tòi những vấn đề pháp luật liên quan đến chuyên ngành đào tạo để giúp ngời học tích hợp kiến thức với chuyên môn có vậy giờ học mới thực sự sinh động và có hiệu quả.
Chơng 28 Việc chọn phơng pháp thi kiểm tra đánh giá
và tiêu chí đánh giá cũng là một công việc quan trọng trong quá trình nâng cao chất lợng giảng dạy giáo dục pháp luật trong nhà trờng. Một mặt vừa đảm bảo các yêu cầu
đánh giá mặt khác tạo ra hứng thú say mê học tập pháp luËt.
Nh vậy, giáo viên dạy pháp luật cần phải là ngời giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ sự phạm đồng thời phải là ngời chấp hành và có thái độ chấp hành pháp luật tốt. Trong nhà trờng phải là ngời chấp hành các qui chế, quy định của nhà trờng
đối với giáo viên trong các công việc soạn bài, lên lớp, thi kiểm tra đánh giá và các hoạt động khác giáo viên dạy pháp luật
cũng phải là ngời có ý thức học tập suốt đời có nh vậy mới không đa những thông tin lạc hậu kém sinh động vào trong bài giảng của mình. Làm tốt công tác bồi dỡng giáo viên pháp luật để nâng cao chất lợng giáo dục pháp luật trong nhà tr- ờng là tiền đề tạo ra lớp ngời lao động trẻ có văn hóa, kỹ thuật, ý thức chấp hành pháp luật phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nớc ta.
Tiểu kết chơng 2
Những nội dung của Chơng 2 luận văn nhằm trình bày cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta. Vì vậy, Chơng 2 tập trung trình bày về quan niệm và thực trạng ch-
ơng trình giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục từ phổ thông đến cao đẳng và đại học không chuyên luật ở nớc ta.
Nhận xét chung có thể đợc nêu lên ở đây là:
- ở nớc ta, trong hệ thống nhà trờng, nhất là trong hệ thống các trờng cao đẳng và cao đẳng kỹ thuật đã có ch-
ơng trình giáo dục pháp luật, do Bộ Giáo dục và Đào tạo xác
định. Chơng trình đó đã và đang đợc áp dụng theo khung khổ chung, nhng đợc thực hiện cụ thể tuỳ theo từng trờng.
- Khiếm khuyết lớn nhất của chơng trình đào tạo là cha
đợc định hớng theo chuẩn cụ thể, nhất định nào về nội dung kiến thức và trình độ giáo dục cần phải đạt đợc.
- Thực tiễn đời sống học tập và sinh hoạt của sinh viên cao đẳng cho thấy tri thức khoa học về luật pháp, ý thức pháp luật của họ còn nhiều vấn đề đòi hỏi phải tăng cờng công tác giáo dục pháp luật với tính chất là một môn học chính khoá, với một chơng trình cần đợc hoàn thiện thêm.
QUAN ĐIểM và GIảI PHáP Hoàn THIệN CHƯƠNG TRìNH GIáO DụC PHáP LUậT
TRONG CáC TRƯờNG CAO ĐẳNG Kỹ THUậT HIệN NAY 28.1 YÊU CầU KHáCH QUAN HOàN THIệN CHƯƠNG TRìNH GIáO DụC PHáP LUậT TRONG CáC TRƯờng CAO ĐẳNG Kỹ THUậT ở VIệT NAM HIệN NAY
Yêu cầu khách quan tiếp tục hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam bắt nguồn từ những yếu tố chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, do yêu cầu của bối cảnh mới của đất nớc và thời đại.
Nhân loại đang bớc vào thế kỷ 21, thế kỷ của một nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức trong xu thế toàn cầu hoá. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân nhiệm vụ không chỉ tiếp cận mà phải dám đi thẳng từng bớc vào nền kinh tế tri thức, bằng cách đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao, có tri thức khoa học và giỏi thực hành chuyên môn, bắt đầu từ
trong quá trình giáo dục và đào tạo, trong đó có nhiệm vụ giáo dục pháp luật.
Thứ hai, đòi hỏi khách quan tiếp tục hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam bắt nguồn từ chính yêu cầu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học ở nớc ta, trong đó có đào tạo trình độ cao đẳng.
Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học đợc bắt
đầu thực hiện chính là xuất phát từ bối cảnh mới của đất nớc và của thời đại nh đã nêu ở trên. Những mục tiêu chung và nhiệm vụ chủ yếu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học đã đợc trình bày khải quát trong Chơng 1 Luận văn này.
Thứ ba, yêu cầu khách quan tiếp tục hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam bắt nguồn từ đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân, dới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý nhà nớc chủ yếu bằng pháp luật.
Do đó, mọi ngời dân đòi hỏi phải có những hiểu biết thông thờng về pháp luật và có ý thức chấp hành pháp luật, còn đối với sinh viên cao đẳng kỹ thuật và đại học, dứt khoat phải có tri thức về pháp luật, thông qua việc giảng dạy