bên gây thiệt hại sẽ phải bồi thờng những thiệt hại do mình gây ra. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thờng thiệt hại là:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng.
- Có thiệt hại thực tế xảy ra.
- Có những quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra.
- Có lỗi của bên vi phạm.
Việc bồi thờng thiệt hại này đợc tuân theo những quy
định của pháp luật, bao gồm có hai loại hình thức dới đây:
Khi hợp đồng bị vi phạm thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm tài sản. Có hai hình thức trách nhiệm tài sản là:
- Bồi thờng thiệt hại.
- Phạt hợp đồng.
2.2.3.1. Bồi thờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng Bồi thờng thiệt hại là một chế tài vật chất dùng để bù
đắp những thiệt hại thực tế xảy ra cho bên bị thiệt hại.
Chức năng và vai trò của bồi thờng thiệt hại chủ yếu là bồi hoàn bù đắp, khôi phục lại lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm.
Cơ sở để định mức thiệt hại là những tài sản mất mát, h hỏng lãi phải trả ngân hàng, lãi dự tính trong điều kiện bình thờng, các chi phí ngăn chặn và hạn chế thiệt hại
do vi phạm hợp đồng gây ra.
Nếu nh trớc đây Bộ luật Dân sự 1995 chỉ quy định bồi thờng thiệt hại tại điều 266 với nội dung: "Chủ sở hữu, ng- ời chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu ngời có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình bồi thờng thiệt hại". Thì
Bộ luật Dân sự 2005 phép các bên đợc quyền tự thoả thuận mức bồi thờng thiệt hại đợc quy định rõ tại Điều 422 nh sau:
"Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thờng thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi th- ờng thiệt hại; nếu không có thoả thuận trớc về mức bồi thờng thiệt hại thì phải bồi thờng toàn bộ thiệt hại" khoản 3 Điều 422 Bé luËt D©n sù 2005.
"Trong trờng hợp các bên không có thoả thuận về bồi th- ờng thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm".
Và tại khoản 4 Điều 426 Bộ luật Dân sự 2005 quy
định: "Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phơng chấm dứt phải bồi thờng thiệt hại".
Cùng vấn đề bồi thờng thiệt hại, luật Thơng mại quy
định tại nh sau: Tại khoản 2 Điều 302: "Giá trị bồi thờng thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp ma bên vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ đợc hởng nếu không có hành vi vi phạm".
Tại Điều 304 quy định: " Bên yêu cầu bồi thờng thiệt
hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ
đợc hởng nếu không có hành vi vi phạm".
Tại Điều 305 quy định: " Bên yêu cầu bồi thờng thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ đợc hởng đối với hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi th- ờng thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thờng thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế đợc".
So sánh giữa Luật Thơng mại và Bộ luật Dân sự, ta thấy Luật Thơng mại 2005 coi trọng vấn đề bồi thờng thiệt hại cũng nh phạt vi phạm hợp đồng sản xuất kinh doanh và quy định chặt chẽ hơn, cụ thể hơn. Có thể nói luật Thơng mại đa ra các quy định về bồi thờng thiệt hại có tình có lý hơn. Chảng hạn nh:
- Nghĩa vụ chứng minh tổn thất.
- Nghĩa vụ hạn chế tổn thất của các bên yêu cầu bồi thờng thiệt hại.
Đánh giá vấn đề ta thấy: Đối với các hợp đồng thông th- ờng vấn đề bồi thờng thiệt hại đợc pháp luật quy định th- ờng đơn giản. Đối với các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động kinh doanh có yếu tố nớc ngoài thì vấn đề bồi thờng thiệt hại rất phức tạp.
Nguyên nhân: Có lẽ đây là một trong những điểm khác
biệt giữa hoạt động kinh doanh, hoạt động thơng mại và các hoạt động dân sự thông thờng đó là các hoạt động kinh doanh luôn có tính khẩn trơng hơn và cần thiết đợc u tiên hơn so với các hoạt động dân sự thông thờng. Nó cũng là một trong các nguyên nhân, lý do chính đáng khiến cho các nhà xây dựng pháp luật xây dựng tách biệt Bộ luật Dân sự và Luật Thơng mại. ỏ Việt Nam, việc tồn tại song song Bộ luật Dân sự và Luật Thơng mại cũng là hợp lý trong điều kiện u tiên hàng đầu của việc thúc đẩy hoạt động thơng mại. Việc thống nhất luật Thơng mại và Bộ luật Dân sự theo hớng một Bộ luật chung có thể sẽ gặp những bất cập nhất định. Chẳng hạn nh; ở ý, Canada cũng đã từng thống nhất các hoạt động th-
ơng mại theo sự áp dụng của Bộ luật Dân sự đã gặp khá nhiều
điều bất cập khi áp dụng các quan hệ thơng mại. Một khía cạnh khác cần phải thấy rõ hơn về vấn đề thiệt hại đối với hợp
đồng trong kinh doanh đã đợc lợng hoá thành hai vấn đề: thứ nhất mức độ thiệt hại sẽ rất lớn và rất khó xác định đợc vị trí hoàn cảnh xảy ra thiệt hại. Ví dụ: các hợp đồng trong hoạt
động vận tải hàng hoá bằng đờng biển. Thứ hai, quy định pháp luật liên quan đến áp dụng bồi thờng thiệt hại là rất phức tạp ngoài các quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thơng mại 2005, luật hằng hải Việt Nam còn có các quy định của luật pháp quốc tế: điều 2, khoản 2 Điều 3 của Công ớc Brucxen 1924 về vận chuyển hàng đờng biển.
Mặc dù Bộ luật Dân sự 2005 đã có nhiều quy định mới tiến bộ, song với với phạm vi mới đợc mở rộng của Bộ luật Dân sự
2005 là áp dụng cả các hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thì vấn đề bồi thờng thiệt hại cần phải quy định rõ ràng hơn và đầy đủ hơn. Đặc biệt là quy đinh đối với hợp đồng vận chuyển tài sản qua nhiều nớc, nhiều cảng phải thật cụ thể và phù hợp với pháp luật quốc tế để nhằm bảo đảm đợc lợi ích chính đáng của các bên tham gia ký kết hợp đồng.
2.2.3.2. Phạt vi phạm hợp đồng
Chế tài phạt hợp đồng đợc áp dụng nhằm củng cố các cam kết đã đợc ký kết trong hợp đồng cũng nh nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật về hợp đồng. Phạt hợp đồng thờng đợc
áp dụng phổ biến đối với tất cả mọi hành vi vi phạm hợp đồng mà không cần tính tới đã có thiệt hại đã sảy ra hay cha. So với bồi thờng thiệt hại, phạt hợp đồng là một biện pháp mang ý nghĩa trừng phạt và cứng rắn hơn nhiều. Khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng là số tiền do bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm. Tuỳ theo từng trờng hợp và trong từng giai đoạn khác nhau, mức phạt hợp đồng cũng đợc pháp luật quy định khác nhau.
Theo quy định tại khoản hai Điều 29 của Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế 1989 mức phạt hợp đồng đợc quy định nh sau:
"mức tiền phạt vi phạm hợp đồng từ 2% đến 12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm", và đợc cụ thể cho từng loại hợp đồng nh sau:
- Vi phạm về chất lợng(phạt từ 3% đến 12%) vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng (phạt 2%)… Bộ luật Dân sự 1995
không quy định về vấn đề phạt hợp đồng. Luật Thơng mại 2005 quy định tại Điều 301 về mức phạt vi phạm hợp đồng:
"Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụhợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạmdo các bên thoả thuận trong hợp
đồng, nhng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm".
Các quy định về phạt vi phạm tại Điều 422 Bộ luật Dân sù 2005 cã néi dung nh sau:
1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt mà không phải bồi thờng thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thờng thiệt hại; nếu không có thỏa thuận trớc về mức bồi thờng thiệt hại thì phải bồi thờng toàn bộ thiệt hại
Trong trờng hợp các bên không thỏa thuận về bồi thờng thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm [56].
Phạt là mức thỏa thuận của các bên, bên nào vi phạm nghĩa vụ thì bên đó phải chịu nộp phạt cho bên bị vi phạm.
Riêng về phạt hợp đồng có một số quy định mới đáng lu ý nh sau:
- Chỉ đợc áp dụng chế tài phạt hợp đồng khi hợp đồng có quy định về điều này;
- Mức phạt hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên và không bị khống chế mức tối đa nếu xét theo quy định của Bộ luật dân sự, nhng xét theo luật Thơng mại thì mức phạt bị khống chế tối đa không quá 8%. Đây là điêm cha phù hợp của bộ luật Dân sự và luật Thơng mại và cần thiết áp dụng cho lần sửa đổi bổ sung lần sau.
2.2.3.3. Về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp
đồng
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tại Điều 427 về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng nh sau: "Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm" [56].
Tuy vậy, Bộ luật tố tụng dân sự quy định thời hiệu khởi kiện đối với các vụ án dân sự và vụ án kinh doanh nh sau:
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh doanh giữa pháp nhân với pháp nhân; giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh thì thời hiệu khởi kiện là 6 tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trờng hợp pháp luật có quy
định khác. Quy định này làm phát sinh nhiều vớng mắc trong thực tế nh: thời hiệu khởi kiện là 6 tháng là quá ngắn dẫn tới nhiều hợp đồng bị vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên nhng không đợc giải quyết, các tranh chấp này thờng là các hợp đồng tín dụng và bị Tòa án đình chỉ giải quyết do hết thời hiệu khởi kiện và nguyên nhân thờng bắt đầu từ việc các bên lợi dụng uy tín của nhau, bên vi phạm thờng có điều kiện lợi dụng quen biết để kéo dài thời gian hoàn trả nghĩa vụ và việc xác định chính xác ngày phát sinh tranh chấp là hết sức phức tạp và hay nhầm lẫn.
Từ ngày 01/01/2005, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hết hiệu lực. Thay thế cho hai Pháp lệnh này là Bộ luật tố tụng dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hiệu khởi kiện chung cho các tranh chấp dân sự, kinh doanh - th-
ơng mại là
2 năm, kể từ ngày các tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trờng hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp
đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm". Nh vậy, theo Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định thời hiệu khởi kiện thống nhất cho mọi tranh chấp hợp đồng,
trong đó có cả các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng là 2 năm, kể từ ngày bên có quyền lợi hợp pháp bị xâm hại.
Chơng 3
Định hớng và giải pháp cơ bản
trong việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng của nớc ta hiện nay
3.1. định hớng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật hợp
đồng
Là một bộ phận của cơ chế kinh tế - xã hội, pháp luật hợp đồng có thể tác động đến các quan hệ kinh tế - xã hội theo hớng thúc đẩy hoặc kìm hãm. Pháp luật có tác động thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển nếu nó phản ánh
đúng bản chất của các quan hệ xã hội. Ngợc lại, pháp luật hợp
đồng sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nếu nó phản ánh sai lệch về nền kinh tế, làm méo mó các quan hệ kinh tế, hoặc thậm chí là không theo kịp sự phát triển của kinh tế- xã hội. Hiện nay, các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế - xã hội đợc thiết lập trên cơ sở hợp
đồng nói riêng diễn ra hết sức phức tạp và thay đổi nhanh chóng. Do vậy, để các quy phạm pháp luật về hợp đồng, gây cản trở cho sự phát triển của các quan hệ xã hội và
đặc biệt là các quan hệ kinh tế thì đòi hỏi phải thực hiện một loạt các công việc nh: Tiến hành rà soát lại hệ thống các văn bản áp dụng về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và
hoàn thiện hệ thống này mà trọng tâm là chế độ pháp lý về hợp đồng. Việc hoàn thiện chế độ pháp lý hợp đồng vừa phải tuân thủ theo các nguyên tắc của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam nói chung, vừa phải tuân theo các nguyên tắc mang tính đặc thù của pháp luật quốc tế (Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO).
Việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng phải xuất phát từ những định hớng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng phải xuất phát từ đờng lối đổi mới kinh tế - xã hội nói chung, của Đảng, Nhà nớc và đặc trng của nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Từ Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 11/1986, Đảng ta đã chủ trơng thực hiện đổi mới đờng lối phát triển kinh tế, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nớc. Đảng ta chủ trơng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nớc trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội. Sau gần 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới kinh tế, chúng ta đã đạt đợc những chỉ tiêu tăng trởng rất cao, nền kinh tế phát triển ổn định và cơ cấu kinh tế thay đổi rõ rệt. Điều đó khẳng định tính đúng đắn của đờng lối phát triển kinh tế đã đợc Đảng đề ra tại Đại hội lần thứ VI của
Đảng tháng 11/1986 và các Đại hội Đảng sau này. Do đó, pháp
luật về hợp đồng cần phải đợc khẩn trơng xem xét sửa đổi cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị tr- ờng nh nguyên tắc tự do kinh doanh, nguyên tắc cạnh tranh, nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế... Việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng phải theo hớng mở rộng giao lu hàng hóa, khuyến khích sự tham gia vào hoạt động kinh tế của tất cả các thành phần kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu và u tiên nhập khẩu vật t thiết bị, công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại để phát triển sản xuất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Thứ hai: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng phải hớng tới việc mở rộng quyền tự do hợp đồng của các bên
đơng sự
Cùng với đổi mới đờng lối phát triển kinh tế - xã hội, trong mối giao lu dân sự và giao lu kinh tế. Tự do hợp đồng thể hiện ở việc các bên tự do bày tỏ ý chí của mình, tự do lựa chọn đối tác, tự do thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động. Tuy nhiên,
đây là sự tự do trong giới hạn pháp luật cho phép. Việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cần phải triệt để tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do hợp đồng của các bên nhng cũng cần phải khẳng định sự can thiệp đúng mức của pháp luật đối với sự tự do thỏa thuận của các bên. Có nh vậy, chúng ta mới đảm bảo cho hợp đồng thực sự trở thành