3.2.1.1. Bổ sung loại hình hợp đồng thành lập héi
Yếu tố hội, tổ chức ở nớc ta phát triển mạnh mẽ kể từ sau ngày đổi mới của nền kinh tế (1986). Trong giới hạn của luận văn, tác giả giới hạn và đa ra một số mô hình của tổ chức hội bao gồm: họ, hụi,biêu, phờng, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Đây là những tổ chức hội gắn kết với nhau trên cơ sở cùng chung góp vốn theo những mức
độ nhất định. Ta thấy rõ, để thành lập đợc tổ chức hội, các cá nhân phải thống nhất với nhau về một số nội dung nh mức
đóng góp tài sản, ngời quản lý và trông coi tài sản, thời gian và địa điểm phân chia tài sản, phân chia lợi nhuận.
Đánh giá bản chất của tổ chức hội, thực chất của vấn
đề đó chính là các thành viên phải thống nhất ý chí với nhau về các nội dung nh mức đóng góp tài sản, phân công cụ thể trách nhiệm của từng ngời… Nh vậy, bản thoả thuận, hay bản ghi nhớ xác nhận đó xét về nội dung chính là hợp
đồng. Ta cần thiết phải cụ thể hoá thành các dạng hợp đồng thành lập hội, có thể bao gồm những loại sau: hợp đồng thành lập tổ chức họ, hụi, biêu, phờng, hợp đồng thành lập công ty.
Nếu nh Bộ luật Dân sự 1995, luật Thơng Mại, Bộ luật hợp đồng kinh tế… không quy định về việc hình thành tổ chức nh thế này. Đây là một thiếu sót của hệ thống quy phạm pháp luật.
Bổ sung cho sự thiếu sót đó, Bộ luật Dân sự 2005 đã
quy định tại Điều 479 đối với vấn đề họ, hụi, biêu, phờng…
khoản 1 Điều 479.
Có thể nói, việc thành lập ra một tổ chức họ, hụi, biêu, phờng đã có từ lâu và phổ biến ở nhiều vùng nông thôn cũng nh thành thị của nớc ta. Nguyên tắc hoạt động và mục
đích của nó là tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân, góp nhiều lần theo định kỳ với số lợng ít tài sản và khi nhận
lại sẽ là số lớn tài sản nhằm giải quyết đợc công việc lớn trong gia đình… mà không phải vay mợn từ nơi khác. Về ý nghĩa,
đây là một hoạt động tốt và là một tập quán truyền thống tốt của ngời dân Việt Nam. Bộ luật Dân sự đã quy định, tuy nhiên Bộ luật Dân sự sửa đổi lần tiếp theo phải quy định thật cụ thể và chi tiết đối với nội dung của họ, hụi, biêu, ph- êng…
Bên cạnh tổ chức họ, hụi, biêu, phờng trong nền kinh tế nớc ta còn rất nhiều tổ chức đợc thành lập ở hình thức nh vậy nh các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Nếu nh trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thành lập một xí nghiệp một nhà máy thờng đợc cơ quan nhà nớc cấp trên ra quyết định thành lập và hoạt động nh một pháp nhân độc lập. (giao trả sau, bổ nhiệm cán bộ) để nhà máy, xí nghiệp..đó. nhằm bảo đảm kế hoạch do cấp trên giao khoán.
Sau ngày đổi mới của nền kinh tế năm 1986 và đặc biệt là sau năm 1991 khi luật công ty ra đời, nền kinh tế nớc ta xuất hiện nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… Việc tổ chức công ty luôn luôn phải có từ hai thành viên trở lên (trừ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên).
Các thành viên sáng lập phải thống nhất với nhau ở các nội dung cơ bản nh mức độ góp vốn, góp sức, phân chia phạm vi quản lý, cách thức chia lợi nhuận… Những nội dung nói trên,
giữa các thành viên sáng lập phải thống nhất với nhau và hình thành một bản thoả thuận đó chính là hợp đồng. Luật doanh nghiệp quy định các nội dung liên quan đến thành lập công ty nh: số lợng thành viên, vốn góp, trách nhiệm… tại
điều lệ công ty. Xét về bản chất cũng nh vai trò của điều lệ công ty thì đó chính là hợp đồng và là cơ sở để phân chia quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong công ty, điều lệ công ty quy định về tổ chức và hoạt động của công ty. Nh vậy, điều lệ của công ty có nội dung khá lớn và bao quát hết các vấn đề khởi sinh cũng trong quá trình hoạt dộng của công ty. Theo tác giả điều lệ của công ty nên tách một bộ phận liên quan tới quá trình khởi sinh ra đời của công ty (số lợng thành viên sáng lập, mức vốn đóng góp, quyền lợi và nghĩa vụ của sáng lập viên) thành một hợp đồng là hợp đồng thành lập công ty. Theo tác giả, Bộ luật Dân sự do lần sửa đổi tiếp theo cần thiết phải quy định thêm một loại hợp đồng mới đó là hợp đồng thành lập công ty. Đây cũng là một yêu cầu nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang đặt ra đối với các nàh xây dựng pháp luật, nó bảo đảm đợc yêu cầu pháp luật phản ánh đúng và kịp thời sự phát triển của các quan hệ xã hội hiện nay.
3.2.1.2. Hoàn thiện các quy định về giao kết hợp
đồng
Căn cứ vào Điều 390 của Bộ luật Dân sự 2005 về giao kết hợp đồng, ta thấy tính cứng nhắc trong việc đa ra đề
nghị giao kết hợp đồng và nh vậy ta cần bổ sung trờng hợp nh sau để bảo đảm tính linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp (vì Bộ luật Dân sự đã và đang
áp dụng các hành vi kinh doanh) đó là: Một hợp đồng có thể được giao kết bằng việc chấp nhận một đề nghị giao kết hoặc bằng hành vi của các bên mà nó có thể bộc lộ đầy đủ nội dung của sự thoả thuận.
Thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng
Nền tảng của vấn đề này là ý tưởng: chỉ cần sự thoả thuận giữa đôi bên là đủ để hình thành hợp đồng. Khái niệm về đề nghị và chấp nhận đề nghị thường được dùng để xác định xem hợp đồng đã được giao kết hay chưa, và nếu có thì từ khi nào. Như đó được nờu trong nội dung này coi những khái niệm về giao kết như là những công cụ phân tích thiết yếu và tiên quyết trước khi phân tích nội dung hợp đồng.
- Những hành vi được coi như thoả thuận để giao kết hợp đồng
Các hợp đồng thương mại, đặc biệt là những hợp đồng phức tạp, thường được giao kết sau các cuộc đàm phán kéo dài, mà vẫn chưa xác định được khi nào một bên đưa ra đề nghị giao kết và khi nào bên kia chấp nhận đề nghị giao kết.
Trong những trường hợp như vậy, có thể sẽ khó xác định khi nào thì đôi bên mới đạt được một thoả thuận hợp đồng. Theo nh phần bổ sung, một hợp đồng cú thể được giao kết, ngay cả khi thời điểm giao kết chưa được xác định rõ, miễn là hành
vi của các bên biểu hiện đầy đủ nội dung của thoả thuận. Ðể xác định liệu đã đủ các bằng chứng thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng về việc giao kết hay chưa, hành vi của họ phải được giải thớch theo những tiờu chuẩn được quy định rõ ràng, bao quát đợc nội hàm của sự thoả thuận của các bên và phải bảo đảm hai yêu cầu:
+ Tính xác thực của một đề nghị: Vì một hợp đồng được giao kết bằng sự chấp nhận đề nghị giao kết, các điều khoản chủ yếu của hợp đồng cần phải được xỏc định cụ thể ngay trong đề nghị giao kết và liệu một đề nghị đưa ra có thoả mãn được yêu cầu về tính xác định này hay không? Nội dung có thể được mô tả bằng những từ chung chung, thậm chí những điều khoản thiết yếu như mô tả chi tiết về hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ cung cấp, giá cả thanh toán, thời gian và địa điểm thực hiện hợp đồng, v.v... có thể không được xác định trong đề nghị mà vẫn không làm mất tính xác thực của lời đề nghị: mọi việc tuỳ thuộc vào việc soạn thảo nội dung đề nghị giao kết, và việc bên nhận đề nghị có chấp nhận kiểu đề nghị đó hay không, có mong muốn ràng buộc về hợp đồng không, và liệu những điều khoản chưa được đưa ra có thể được xác định bằng việc giải thích ngôn ngữ của bản thoả thuận theo điều khoản. Việc xác định có thể được bổ sung và giải thích bằng cách áp dụng tập quán hoặc các quy ước giữa các bên, cũng như bằng cách áp dụng những điều khoản cụ thể (ví dụ: xác định chất lượng của việc thực hiện, xác định giá cả, thời gian thực hiện hợp đồng,nơi thực hiện hợp đồng và đồng tiền).
+ Mong muốn được ràng buộc: Tiêu chuẩn thứ hai để xác định xem một bên đã thực sự đề nghị giao kết hợp đồng hay chỉ mở đầu các cuộc đàm phán, là
ý chí của các bên mong muốn được hợp đồng ràng buộc. Vì ý chí này ít khi được tuyên bố rõ ràng nó thường phải được xác định khi xảy ra tranh chấp trong từng trường hợp cụ thể. Cách thức bên đề nghị trình bày một đề nghị (ví dụ bằng cách định nghĩa rằng văn bản của họ là "bản đề nghị giao kết" hoặc chỉ là "lời mời thảo luận"), trước tiên cho ta biết về ý muốn của bản đề nghị, dù không phải đã là cách hiểu đúng. Điều quan trọng hơn nhiều là nội dung và địa chỉ của bên nhận đề nghị. Nói chung, các văn bản này càng chi tiết, thì càng có khả năng được xem là một bản đề nghị giao kết hợp đồng. Một văn bản được gửi đến một người thì có khả năng được hiểu như là một bản đề nghị giao kết hợp đồng hơn là lời mời thảo luận (nếu văn bản đó được gửi cho nhiều người).
Ví dụ:
1. Sau nhiều cuộc đàm phán kéo dài, các giám đốc điều hành của hai Công ty A và B, trình bày những điều kiện để B chiếm 49% cổ phần trong Công ty C hiện đang thuộc sở hữu của Công ty A. Trong "Biên bản ghi nhớ"
được ký kết giữa các bên tham gia đàm phán, có một điều khoản quy định rằng thoả thuận trong hợp đồng này sẽ mang tính chất không ràng buộc trừ khi được hội đồng quản trị của Công ty A chấp nhận. Hợp đồng chỉ hình thành sau khi có sự chấp nhận của hội đồng quản trị đưa ra.
2. A - một cơ quan nhà nước - thông báo việc mở thầu cho việc lập một mạng lưới điện thoại mới. Theo thông báo này, đây chỉ là thư mời gọi nộp đề nghị, theo đó A có thể sẽ chấp nhận hay không chấp nhận. Tuy nhiên, nếu thông báo ghi chi tiết những quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án và nêu rõ rằng hợp đồng sẽ được hình thành với giá thầu nào thấp nhất đáp ứng
đúng quy cách kỹ thuật này, thông báo này sẽ trở thành một đề nghị giao kết hợp đồng một khi giá thầu thấp nhất được xác định.
Nh vậy, tại Điều 390 của Bộ luật Dân 2005 sự về giao kết hợp đồng ta có thể bổ sung nh sau nh sau: Một đề nghị được gọi là đề nghị giao kết nếu nó rõ ràng, đầy đủ và nêu rõ ý định của bên đưa ra đề nghị mong muốn bị ràng buộc bởi hợp đồng khi đề nghị giao kết được chấp nhận.
Thứ hai, đối với việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Vấn đề này đợc Bộ luật Dân sự 2005 quy định tại
Điều 396 nh sau: "Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên đợc đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ của nội dung đề nghị" [56].
Nh vậy, Bộ luật Dân sự cha nêu lên các hình thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Luận văn nêu kiến nghị bổ sung thêm và cụ thể một số hình thức giao kết hợp đồng nh sau:
- Các chấp nhận một đề nghị giao kết hợp đồng
Để chấp nhận một đề nghị, bên nhận đề nghị phải bằng cách nào đó
"chấp nhận" đề nghị đó. Việc xác nhận rằng đã nhận được đề nghị, hoặc bày tỏ sự quan tâm đến đề nghị không có nghĩa là chấp nhận nó. Hơn nữa, việc chấp nhận phải vô điều kiện, nghĩa là nó không phụ thuộc vào một vài bước tiếp theo mà người đưa ra đề nghị phải thực hiện (ví dụ "lời chấp nhận của chúng tôi còn tuỳ thuộc vào việc chấp nhận cuối cùng của các ngài") hoặc
người nhận phải thực hiện (ví dụ "Chúng tôi chấp nhận dưới đây các điều khoản của hợp đồng như đã ghi trong văn bản thoả thuận của ngài và sẽ chịu trách nhiệm nộp bản hợp đồng này đến một hội đồng quản trị của chúng tôi để xin chấp nhận trong vòng hai tuần tới"). Sau cùng, lời chấp nhận không được đưa thêm những yêu cầu khác với những điều khoản của đề nghị hoặc ít nhất không được làm thay đổi đến nội dung của những điều khoản đó.
- Việc chấp nhận bằng lời nói
Nếu lời đề nghị không có yêu cầu gì về cách thức chấp nhận, việc chấp nhận có thể được thực hiện bằng cách trình bày rõ ràng trong một câu văn hoặc bằng hành vi của bên nhận đề nghị, không nêu cụ thể những cách thức xử sự của người nhận, bao gồm những hành vi liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, ví dụ: thanh toán trước về giá cả hàng hoá, chuyến hàng hoặc bắt đầu xây cất, v.v...
- Xác nhận bằng văn bản
Điều này được áp dụng khi một hợp đồng đã được giao kết hoặc bằng miệng hoặc bằng văn bản trong giới hạn các điều khoản chủ yếu mà hai bên đã thoả thuận, sau đó một bên gửi cho bên kia một văn bản xác nhận những gì đã được thoả thuận cho đến lúc đó, nhưng kèm thêm những điều khoản mới hoặc khác với những điều khoản mà hai bên đã thoả thuận trước. Về lý thuyết thì trường hợp này khỏc hẳn với trường hợp được đề cập đến ở Điều 397 của Bộ luËt D©n sù, khi một hợp đồng chưa được giao kết và những điều khoản bổ sung được ghi trong bản chấp nhận của bên nhận đề nghị. Tuy vậy, trên thực tế, rất khó hoặc không thể phân biệt được sự khác nhau giữa hai trường hợp. Vì thế, việc xỏc nhận lại cần phải được giải quyết bằng văn bản. Tuy nhiờn, điều
khoản này cũng chỉ được áp dụng đối với những điều khoản sửa đổi được xác nhận lại bằng văn bản. Nói cách khác, tương tự như những sửa đổi có trong văn bản xác nhận đơn đặt hàng, những điều khoản mới được bổ sung hoặc khác với những điều khoản mà trước đây hai bên đã thoả thuận, được xác nhận lại bằng văn bản, sẽ trở thành một phần của hợp đồng, nếu như những điều khoản này không thay đổi "đáng kể" so với thoả thuận và bên nhận văn bản không phản đối chúng ngay lập tức. Tương tự như trường hợp xác nhận bằng văn bản, vấn đề xem xét việc thay đổi hay bổ sung những điều khoản mới có làm thay đổi "đáng kể"
đến những điều khoản mà trước đây hai bên đã thoả thuận hay không phải được giải đáp dựa trên từng trường hợp cụ thể. Mặt khác, điều khoản này đương nhiên không áp dụng cho những trường hợp khi một bên gửi văn bản xác nhận và yêu cầu bên kia gửi lại cho họ một bản và ký xác nhận là đã chấp nhận. Trong những trường hợp như vậy, bất kể văn bản có những sửa đổi gì, và những sửa đổi này có làm thay đổi "đáng kể" hay không, thì trong bất kỳ trường hợp nào văn bản cũng cần được sự chấp nhận của bên nhận văn bản trước khi nó trở thành một hợp đồng. Nh vậy ta cụ thể hóa bằng nội dung nh sau:
Nếu văn bản nhằm xác nhận lại hợp đồng, bao gồm một vài điều khoản bổ sung, được gửi đi trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng, thì các điều khoản ghi trong văn bản sẽ trở thành một phần của hợp đồng, trừ trường hợp nội dung của văn bản xác nhận lại hợp đồng làm thay đổi "đáng kể" nội dung của hợp đồng đã được giao kết hoặc người nhận phản đối không chậm trễ những thay đổi này.
Ví dụ:
1. B đã chấp nhận yêu cầu đặt mua thiết bị của A qua điện thoại. Hôm sau, A nhận được một lá thư của B xác nhận những điều khoản đã được hai bên