Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

Một phần của tài liệu Giam sat hoat dong hanh chinh (Trang 78 - 84)

Giai đoạn 1959 và 1980 là giai đoạn quan trọng đánh dấu sự phát triển của đất nớc, với hai nhiệm vụ chiến lợc: xây

dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nớc nhà. Pháp luật về giám sát hoạt động hành chính nhà nớc của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng trong giai đoạn này thể hiện tập trung trong các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp năm 1962. Về nội dung, các văn bản pháp luật đã quy định:

- Về giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt

động của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng:

Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp (năm 1962) đã đề cao vị trí, vai trò và tăng cờng quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong mối quan hệ với ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân đợc xác định là cơ quan quyền lực nhà nớc ở địa ph-

ơng, ủy ban hành chính là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp và là cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. ủy ban hành chính chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với Hội đồng nhân dân cấp mình. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn ủy ban hành chính cùng cấp, chất vấn các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban hành chính.

Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, Hội đồng nhân dân có quyền giám sát các hoạt động của ủy ban hành chính cùng cấp (Điều 91) và có quyền giám sát quyết định của ủy ban hành chính, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dới. Khi thực hiện quyền giám sát, Hội đồng nhân dân

cấp tỉnh có quyền bãi miễn thành viên ủy ban hành chính cấp mình, có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết

định không thích đáng của ủy ban hành chính cấp mình, những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dới trực tiếp và những quyết định không thích

đáng của ủy ban hành chính cấp dới trực tiếp (Điều 85 Hiến pháp năm 1959 và Điều 81 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1962). Ngoài ra, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền giải tán Hội đồng nhân dân cấp dới trực tiếp khi Hội đồng nhân dân có những quyết

định làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân. Nghị quyết giải tán của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải đợc ủy ban Thờng vụ Quốc hội phê chuẩn trớc khi thi hành (Điều 86). Bên cạnh đó, Luật còn quy định cho Hội

đồng nhân dân có quyền đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị không thích đáng của ủy ban hành chính cấp mình và của cả ủy ban hành chính cấp dới trùc tiÕp.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng trong giai

đoạn này có sự phát triển hơn so với giai đoạn trớc đây. Điển hình là việc quy định thành lập các Ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính (năm 1962, các điều 2-6, điều 28-33). Việc thành lập các Ban chuyên trách đã góp phần

tích cực trong việc tăng cờng họat động giám sát của Hội

đồng nhân dân. Tuy nhiên, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1962) lại cha có quy định rõ tên từng Ban, số lợng ban, chức năng nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của Ban nên dẫn đến khó khăn, lúng túng trong việc tổ chức thực hiện. Mặc dù vậy, pháp luật quy định về hoạt

động giám sát của Hội đồng nhân dân đã thể hiện vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân đối với ủy ban hành chính và đối với các cơ quan nhà nớc khác ở địa phơng.

- Về hoạt động giám sát thông qua hình thức khiếu nại tố cáo của nhân dân. Trong thời kỳ này đã một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thông qua công tác thanh tra. Nghị quyết số 164/CP ngày 31 tháng 8 năm 1970 của Hội đồng Chính phủ về tăng cờng công tác thanh tra, chấn chỉnh hệ thống cơ quan thanh tra, chỉ rõ nhiệm vụ của công tác thanh tra là xét giải quyết và đôn đốc việc xét giải quyết đúng

đắn, kịp thời các vụ khiếu nại, tố cáo của công dân, phơng hớng tiến hành công tác thanh tra; Nghị quyết số 165 ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của ủy ban thanh tra Chính phủ, việc giải quyết và thanh tra việc giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo của công dân. Đến năm 1976, Thủ tớng Chính phủ ra Quyết

định số 25/TTg ngày 9/01/1976 về việc tổ chức các Ban

thanh tra nhân dân ở các đơn vị cơ sở chính quyền, kinh tế, sự nghiệp. Quyết định số 25/QĐ-HĐCP đã quy định rõ nhiệm vụ của Ban Thanh tra nhân dân là tham gia góp ý kiến với chính quyền cơ sở hoặc Thủ trởng cơ quan, xí nghiệp trong việc xét giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo hoặc các kiến nghị, thỉnh cầu của nhân dân thuộc trách nhiệm đơn vị giải quyết. Hình thức hoạt động giám sát của Ban thanh tra nhân dân đợc pháp luật thời kỳ này khẳng

định là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của quần chúng nhân dân với Thanh tra của Chính phủ và tạo điều kiện để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình trong việc kiểm tra, giám sát. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân đợc đợc thực hiện dới sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cơ sở, thủ trởng cơ quan, đơn vị và ủy ban thanh tra của Chính phủ có trách nhiệm hớng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành. Tiếp sau đó, ngày 15/4/1976 ủy ban Thanh tra Chính phủ đã có Thông t số 02/TTg hớng dẫn việc thi hành Quyết định số 25/TTg. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho Ban thanh tra thực hiện quyền giám sát mang tính xã hội.

Nh vậy, pháp luật về hoạt động giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng thời kỳ này đã có bớc phát triển hơn so với giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1959. Nếu nh, giai đoạn trớc đây, pháp luật

điều chỉnh về hoạt động giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng đợc thể hiện dới hình thức Sắc lệnh của Chủ tịch nớc thì ở giai đoạn này các đạo luật đã có tác dụng điều chỉnh trực tiếp hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; các văn bản dới luật nhằm quy định cụ thể, hớng dẫn thực hiện chủ yếu có hình thức quyết định, thông t, đã hình thành nên hệ thống pháp luật về giám sát hành chính, trong đó đã đặt cơ sở cho sự ra

đời của Ban Thanh tra nhân dân. Nh vậy, có thể khẳng

định đây là dấu mốc đánh dấu sự phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng.

Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 còn ghi nhận sự phát triển của pháp luật về giám sát hoạt động hành chính nói chung và hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc nói riêng bởi sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy

định: Viện kiểm sát nhân dân tối cao nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nớc địa phơng, các nhân viên cơ quan nhà nớc và công dân. Viện kiểm sát nhân dân địa phơng và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi luật định. Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nớc ở địa phơng và các nhân viên cơ quan nhà nớc ở địa phơng.

Nh vậy, pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng thời kỳ 1959

đến 1980 đã có những bớc phát triển mới hơn so với giai

đoạn trớc đây, thể hiện sự nỗ lực của Đảng và Nhà nớc trong việc thực hiện và phát huy vai trò của pháp luật về giám sát hành chính, đảm bảo cho hoạt động giám sát hành chính

đối với cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng đợc thực hiện trong một môi trờng pháp lý ngày càng hoàn thiện.

Một phần của tài liệu Giam sat hoat dong hanh chinh (Trang 78 - 84)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(184 trang)
w