Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 là giai đoạn cả
nớc hòa bình, thống nhất, độc lập, qua độ lên chủ nghĩa xã
hội. Trong giai đoạn này, pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng có những bớc phát triển đáng kể, thể hiện nh sau:
- Về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở
địa phơng.
Một trong những biện pháp nhằm tăng cờng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng là việc Quốc hội sửa đổi Hiến pháp năm 1980 và tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức
Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân vào các năm 1983, năm1989. Đặc trng nhất của các lần sửa đổi này là quy định mới về việc thành lập cơ quan thờng trực Hội
đồng nhân dân từ cấp huyện trở lên. Đây là một bớc phát triển nhằm tăng cờng chất lợng của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, về mặt tổ chức, điểm mới của pháp luật giai đoạn này là Hội đồng nhân dân các cấp đợc thành lập các Ban chuyên trách và Ban Th ký để giúp Hội đồng nhân dân theo quy định của Hội đồng Nhà nớc (Điều 27 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân). So với giai đoạn trớc đây, việc thành lập các ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân đợc xác định rõ ràng, cụ thể hơn về chức năng nhiệm vụ nên việc hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng đợc đảm bảo hơn. Theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1983) thì các ban của Hội đồng nhân dân có chức năng, nhiệm vụ nh:
- Giúp Hội đồng nhân dân nghiên cứu trớc, thẩm tra tr- ớc các dự thảo báo cáo, dự thảo nghị quyết dự định trình Hội đồng nhân dân.
- Giúp Hội đồng nhân dân kiểm tra, giám sát ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nớc ở địa phơng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật Nhà nớc và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
- Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Trong các quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1983) có quy định về thành viên của các Ban của Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của ủy ban nhân dân cùng cấp. Quy định này khắc phục đợc tình trạng ngời làm công tác giám sát
đồng thời lại là ngời bị giám sát. Do đó, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân sẽ đảm bảo khách quan hơn. Bên cạnh đó, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1983) còn có quy định mới cho phép các ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn ủy ban nhân dân tại điểm 7, Điều 29. Đây là quy định nhằm tăng thêm quyền hạn và trách nhiệm cũng nh khẳng định vai trò giám sát của các ban của Hội đồng nhân dân đối với các ủy ban nhân dân.
Về đối tợng giám sát, so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 thì Hiến pháp năm 1980 đã có quy định mở rộng hơn về đối tợng giám sát của Hội đồng nhân. Khoản 12, Điều 115 Hiến pháp năm 1980 quy định: Trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác của cấp trên đóng ở địa phơng.
Quy định này cho thấy, hoạt động giám sát của Hội đồng
nhân dân ở địa phơng đã bao quát hết các đối tợng giám sát nhằm đảm bảo cho pháp luật đợc tuân thủ nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi địa phơng.
Quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cũng
đợc quy định một cách cụ thể hơn trong Hiến pháp năm 1980. Điều 120 Hiến pháp quy định:
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nớc khác của địa phơng. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trớc Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định.
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nớc ở địa phơng. Những ngời phụ trách các cơ quan này có trách nhiệm tiếp
đại biểu, xem xét và giải quyết kiến nghị của đại biÓu [12].
Ngoài ra, để nâng cao trách nhiệm của cơ quan hoặc của ngời trả lời chất vấn, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1983) đã có quy định: Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc trả lời và trách nhiệm của cơ quan hoặc ngời bị chất vấn (Điều 36) v.v...
Nh vậy, có thể thấy rằng, Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm
1983) đã có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. Bên cạnh những quy định mới nhằm tăng cờng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng, pháp luật thời kỳ này còn có những quy
định bất cập làm ảnh hởng đến hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân. Đó là quy định tại Điều 47 Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1983): "Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân đợc xét và giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng nhân dân cùng cấp" [38]. Đây là sự mâu thuẫn trong việc quy định cho ủy ban nhân dân thực hiện cùng một lúc hai chức năng - chức năng quản lý hành chính nhà nớc ở địa phơng và chức năng của Hội đồng nhân dân trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp. Quy định này làm giảm khả năng hoạt động của Hội đồng nhân dân và tạo ra nguy cơ lộng quyền cho hoạt động của ủy ban nhân dân.
Sau một thời gian thực hiện Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1983), đến năm 1989, sau Đại hội Đảng lần thứ VI ba năm, Quốc hội đã tiến hành sửa
đổi, bổ sung, ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1989). Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân (năm 1989) đã có quy định mới nhằm tăng cờng hoạt động của Hội đồng nhân dân nói
chung và hoạt động giám sát nói riêng. Đó là việc thay thế Ban th ký Hội đồng nhân dân bằng Thờng trực Hội đồng nhân dân. Thờng trực Hội đồng nhân dân là cơ quan bảo
đảm cho tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm trớc Hội đồng nhân dân, duy trì mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
điều hòa phối hợp giữa các ban của Hội đồng nhân dân, chịu sự giám sát, hớng dẫn của Hội đồng nhân dân. Đồng thời, Thờng trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh còn thực hiện việc giám sát, hớng dẫn thờng trực Hội đồng nhân dân cấp huyện.
Sự hiện diện của Thờng trực Hội đồng nhân dân đã đa ủy ban nhân dân trở lại đúng vị trí của mình là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, thực hiện quản lý kinh tế - xã hội của địa ph-
ơng, không còn thực hiện chức năng hai mặt nữa.
Đây là bớc thực hiện việc phân định rõ quyền hạn trách nhiệm giữa cơ quan quyền lực và cơ quan hành pháp ở địa phơng [48, tr. 40].
Nếu nh trong các quy định pháp luật trớc đây, các thành viên ủy ban nhân dân nhất thiết phải là đại biểu Hội
đồng nhân dân thì theo quy định của Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1989 chỉ có Chủ tịch ủy ban nhân dân nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng
nhân dân, còn các thành viên khác không nhất thiết phải là
đại biểu Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, các thành viên của Thờng trực Hội đồng nhân dân và của các Ban của Hội
đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của ủy ban nhân dân. Quy định này đánh dấu một bớc quan trọng
đối với pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. Những quy định này tạo nên những bảo đảm pháp lý cho hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với ủy ban nhân dân một cách khách quan và minh bạch.
- Về giám sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. Pháp luật thời kỳ này cũng đánh dấu một sự phát triển về hình thức và nội dung cũng nh tính cụ thể của những quy định pháp luật. Điều 138, Hiến pháp năm 1980 quy định: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trởng, các cơ
quan chính quyền địa phơng, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nớc và công dân, đảm bảo cho pháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1980 cũng trao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố.
Nh vậy, đối với chính quyền địa phơng, hoạt động kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Viện kiểm sát theo
Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (năm 1992) bao gồm:
- Kiểm tra, giám sát việc ban hành quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân các cấp. Mục đích của việc kiểm sát các văn bản quy phạm pháp luật này là để phát hiện ra những văn bản không còn phù hợp với các văn bản pháp luật của Quốc hội, ủy ban thờng vụ Quốc hội, Chủ tịch nớc, Chính phủ đồng thời đảm bảo việc chấp hành pháp luật của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị và công dân đợc nghiêm chỉnh chấp hành.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các cơ quan nhà nớc ở địa phơng.
Pháp luật thời kỳ này cũng quy định trong quá trình kiểm sát văn bản nếu thấy có sự vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị yêu cầu các cơ quan ban hành văn bản pháp luật đình chỉ việc thực hiện, sửa đổi hoặc hủy bỏ các văn bản đó. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu loại trừ nguyên nhân gây ra vi phạm pháp luật, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính đối với ngời có hành vi vi phạm pháp luật.
Nếu có dấu hiệu tội phạm, Viện kiểm sát có quyền khởi tố về hình sự. Trong những trờng hợp pháp luật quy định Viện kiểm sát có quyền khởi tố dân sự và áp dụng các biện pháp thu hồi tài sản và bồi thờng thiệt hại do vi phạm gây ra.
Những quy định nêu trên cho thấy, hoạt động giám sát văn bản do ủy ban nhân dân ban hành và hành vi của cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng đợc Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát giao cho Viện kiểm sát đã chứng tỏ vai trò và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng một cách cụ thể.
- Về hoạt động giám sát của Ban thanh tra nhân dân.
Pháp luật thời kỳ này đã có sự phát triển nhằm tạo điều kiện cho Ban thanh tra nhân dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Ngày 15 tháng 2 năm 1984, Hội đồng Bộ trởng ra ra Nghị quyết số 26-HĐBT về tăng cờng tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra. Nghị quyết 26-HĐBT đã xác
định tổ chức Thanh tra nhân dân là cấp cơ sở trong hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nớc và là tổ chức thanh tra của quần chúng cơ sở, thực hiện sự thống nhất hoạt động thanh tra nhà nớc và thanh tra nhân dân". Quy định này cho thấy, pháp luật giai đoạn này đã có sự phát triển khi quy định sự phối hợp của Thanh tra nhà nớc và Thanh tra nhân dân.
Ngày 01/4/1990, Hội đồng Nhà nớc ban hành Pháp lệnh Thanh tra quy định nhiệm vụ quyền hạn cho các tổ chức Thanh tra nhà nớc trong đó đề cao trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Điểm mới của Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 là việc tách thanh tra nhân dân ra khỏi
Thanh tra Nhà nớc và chuyển sự chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với thanh tra xã phờng; cho Công đoàn đối với Thanh tra ở cơ quan, xí nghiệp, cơ sở sản xuất. Để cụ thể hóa việc tổ chức các Ban thanh tra nhân dân nói trên, Hội đồng bộ trởng đã ra Nghị
định số 24/NĐ-CP quy định cụ thể việc tổ chức các Ban thanh tra nh©n d©n.
Ngày 1/1/1991, Thông t liên tịch số 01/TT giữa Thanh tra Nhà nớc và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hớng dẫn việc thực hiện Nghị định 241-HĐBT đối với các Ban Thanh tra nhân dân tại các cơ quan hành chính sự nghiệp và các
đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc thành phần kinh tế quốc doanh. Bên cạnh đó, ngày 25/11/1991 Mặt trận Tổ quốc đã ra Thông tri số 08-TT/MTTQ về việc hớng dẫn tổ chức và hoạt
động của Ban thanh tra xã, phờng thị trấn. Những quy định pháp luật nêu trên là những cơ sở pháp lý cần thiết để Ban Thanh tra nhân dân thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng là giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. Tuy nhiên, văn bản pháp luật thời kỳ này cha có quy định cụ thể về vị trí pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn cũng nh các mối quan hệ phối hợp giữa Ban thanh tra nhân dân với ủy ban nhân dân, với Mặt trận Tổ quốc các cấp nên trên thực tế, sự phối hợp hoạt động này còn nhiều lúc tỏ ra lúng túng. Hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân rơi vào bị động trớc sự chỉ đạo
của ủy ban nhân dân và thậm chí còn lấn sân sang hoạt
động của chính quyền trong một số vấn đề nh giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Điều này làm cho hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong giai đoạn này cha phát huy đợc vai trò, nhiệm vụ của mình trong việc giám sát hoạt
động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng.
Tóm lại, pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng giai đoạn từ 1980 đến 1992 có ý nghĩa quan trọng trong việc kế thừa và phát triển có chọn lọc những quy định pháp luật về hoạt
động giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nớc ở địa ph-
ơng của giai đoạn trớc đây. Trên cơ sở những quy định pháp luật về hoạt động giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng của giai đoạn này, hoạt động giám sát đợc tiến hành một cách có nề nếp nếp và bớc đầu đạt đợc những kết quả khả quan.