CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ NGUY HIỂM, CÓ HẠI TRONG LAO ĐỘNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH
3.1. Các yếu tố nguy hiểm trong lao động
Là những yếu tố có nguy cơ gây chấn thương hoặc chết người đối với người lao động, bao gồm:
a) Các bộ phận truyền động, chuyển động:
Trục máy, bánh răng, dây đai chuyền và các loại cơ cấu truyền động; sự chuyển động của bản thân máy móc như: ô tô, máy trục, tàu biển, sà lan, đoàn tàu hỏa, đoàn goòng có nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt; Tai nạn gây ra có thể làm cho người lao động bị chấn thương hoặc chết;
- Một số bộ phận truyền động chuyển động trong ngành điện có yếu tố nguy hiểm như cưa máy dùng trong phát quang lưới điện, bộ phận truyền động của máy phát điện, máy bù đồng bộ… Trong quy trình an toàn điện 2018 (quy trình 959) để đề phòng tai nạn do bộ phận truyền động chuyển động của cưa máy, điều 65 khoản 6 quy định “Trường hợp sử dụng cưa máy, sào cách điện để cưa cây, cắt cây thì người thực hiện phải được huấn luyện thành thạo quy trình sử dụng cưa máy, sào cắt cây”; Điều 59 khoản 1, khoản 9 quy định khi làm việc ở máy phát điện và máy bù đồng bộ: Người làm việc phải mặc gọn gàng (nữ giới phải đội mũ, tóc cuốn gọn), kiểm tra ánh sáng nơi làm việc và các thiết bị phụ theo đúng quy trình; Khi làm việc phải đội mũ bảo vệ và sử dụng các công cụ bảo vệ mặt và mắt, quần áo được đóng cúc để tránh việc bị cuốn đi bởi các phần quay của máy móc; ”
b) Nguồn nhiệt:
Ở các lò nung vật liệu, kim loại nóng chảy, nấu ăn... Tạo nguy cơ bỏng, nguy cơ cháy nô; nguồn nhiệt cũng xuất hiện trong các hiện tượng sự cố như phóng điện hồ quang, phóng điện cao áp hoặc người bị điện giật trong khoảng thời gian dài gây nên hiện tượng bỏng ngoài và bỏng trong của cơ thể. Các nguồn nhiệt được phát ra do cháy trạm biến áp, cháy dây dẫn, máy biến áp quá nhiệt, dây dẫn phát nóng tại mối nối do tiếp xúc kém hoặc phát nóng do quá tải cũng là các yếu tố cần được quan tâm để đề phòng tai nạn, sự cố do nguồn nhiệt trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên.
c) Nguồn điện:
Theo từng mức điện áp và cường độ dòng điện tạo nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trường, cháy do chập điện…gây bỏng hoặc làm tê liệt hệ thống hô hấp, tim mạch. Tùy theo loại dòng điện mà mức độ nguy hiểm khác nhau, dòng điện xoay chiều nguy hiểm hơn dòng điện 1 chiều. Theo quy định, dòng điện xoay chiều qua người không gây nguy hiểm (dòng cho phép) phải từ 10 mA trở xuống.
- Tần số dòng điện cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tác hại của tai nạn điện.Với tần số 50- 60 Hz, tỉ lệ tai nạn điện là cao nhất và được coi là nguy hiểm nhất.
48
- Điện áp ảnh hưởng đến điện trở người, với da mỏng hiện tượng chọc thủng đã có thể xuất hiện ở điện áp 10 đến 30V. Khi điện áp lớn hơn 250V hiện tượng chọc thủng xuất hiện rõ ràng tương đương với người bị tróc hết lớp da ngoài. Ở điện áp bé hơn 50V ít khi có vết bỏng; ở điện áp 220V thường tạo thành vết cả khi thời gian tiếp xúc với điện áp ngắn hơn 1 giây. Theo quy định, điện áp xoay qua người không gây nguy hiểm (điện áp cho phép) phải từ 42 V trở xuống.
- Các yếu tố sinh lý và môi trường xung quanh cũng ảnh hưởng đến giá trị điện trở người, điện trở của nam nữ, già trẻ, người mập, ốm đều khác nhau và khả năng chịu đựng mỗi người khác nhau. Điện trở người càng giảm khi diện tích tiếp xúc lớn, áp lực tiếp xúc lớn hoặc thời gian tác dụng càng lâu (bởi vì lớp da bị nóng lên và lớp sừng của da bị chọc thủng càng nhiều), khi đó dòng điện qua người càng tăng lên.
- Đường đi của dòng điện qua người ảnh hưởng đến tỉ lệ dòng điện qua tim quyết định nhiều đến tính mạng con người, đường đi từ đầu đến chân và đường đi từ tay phải qua chân có tỉ lệ dòng điện qua tim cao nhất và là đường đi nguy hiểm nhất. chính vì thế, khi làm việc tiếp xúc vơi nguồn điện cần phải tuân thủ quy định đeo găng tay cách điện phù hợp với cấp điện áp.
- Để đề phòng tai nạn điện, về phía nhà nước đã có Luật Điện Lực trong đó quy định một số điều cụ thể về an toàn điện, phía chính phủ có nghị định 14/2014/NĐ-CP quy định Quy định chi tiết thi hành luật điện lực về an toàn điện. cấp bộ ngành, có các thông tư 31/2014/TT-BCT Quy định chi tiết một số nội dung về an toàn điện như quyết định số 12/2008/QĐ-BCT của bộ công thương ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn điện (QCVN 01:2008/BCT) nhằm điều chỉnh các hành vi hoạt động trong các lĩnh vực về an toàn điện. Ngoài ra, Bộ Công Thương còn ban hành các quy trình khác liên quan đến vấn đề an toàn như Quy Trình Xử Lý Sự Cố Hệ Thống Điện Quốc Gia (thông tư 28/2014/TT-BCT), Quy Trình Điều Độ Hệ Thống Điện Quốc Gia (thông tư 40/2014/TT- BCT), Quy Trình Thao Tác Hệ Thống Điện Quốc Gia (thông tư 44/2014/TT-BCT).
- Về phía Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam cũng có rất nhiều cố gắng trong việc xây dựng, sửa đổi để ngày càng hoàn thiện hơn Quy Trình An Toàn Điện áp dụng trong tập đoàn điện lực Việt Nam. Quy trình hiện tại đang áp dụng là quy trình ban hành kèm theo quyết định số 959 ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
d) Vật rơi đổ, sập:
Thường là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững không ổn định gây ra như sập lò, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi đá lăn trong khai thác đá, trong đào đường hầm; đổ tường, đổ cột điện, đô công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hoá trong sắp xếp kho tàng....
Đề phòng tai nạn lao động do vật rơi, đổ sập cũng là vấn đề không thể thiếu trong công tác quản lý vận hành sửa chữa hệ thống điện. Một số quy định làm việc trên cao để phòng vật rơi, đổ sập như sau:
49
- Khi có gió tới cấp 6 hay trời mưa to nặng hạt hoặc có giông sét, trừ những trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền yêu cầu.”;
- Khi đang làm việc trên cao, cấm các hành vi sau: “Đưa dụng cụ, vật liệu lên cao hoặc từ trên cao xuống bằng cách tung, ném, mang vác dụng cụ, vật liệu nặng lên cao cùng với người; Cho vào túi quần, áo các dụng cụ, vật liệu để đề phòng rơi xuống người khác;”
- Khi làm việc trên cao phải thực hiện như sau: Để dụng cụ làm việc vào chỗ chắc chắn hoặc làm móc treo vào cột, sao cho khi va đập mạnh không rơi xuống đất; Khi đưa dụng cụ, vật liệu lên cao hoặc hạ xuống phải dùng dây trực tiếp hoặc qua puly để kéo lên, hạ xuống, người ở dưới phải giữ một đầu dây và không đứng gần sát vị trí làm việc tính theo phương thẳng đứng; ) Chỉ được mang theo người những dụng cụ nhẹ như kìm, tuốc-nơ- vít, cờ-lê, mỏ-lết, búa con,... , nhưng phải đựng trong bao chuyên dùng.
- Khi trèo lên cột phải kiểm tra sơ bộ tình trạng của móng cột và cột.
- Khi có giông, bão hoặc sắp có giông, bão người chỉ huy trực tiếp phải cho đơn vị công tác ra khỏi khu vực nguy hiểm do đứt dây hoặc đổ, gẫy cột,...
- Đi kiểm tra đường dây, thiết bị bằng mắt thì được phép làm việc 01 người. Phải xem như đường dây đang có điện, kiểm tra tiến hành trên mặt đất, ban đêm phải có đèn soi, chú ý dây dẫn bị chùng võng và đứt, rơi.
- Khi công tác trên chuỗi sứ, chỉ cho phép người di chuyển dọc chuỗi sứ sau khi đã xem xét kỹ chuỗi sứ, không có vết nứt ở đầu sứ hay các phụ kiện khác, các móc nối, khoá, chốt còn tốt và đủ.
- Quy định về Chặt (cưa) cây ở gần đường dây (Điều 65 Quy Trình An Toàn Điện) và quy định về An toàn lao động khi sử dụng xe chuyên dùng (chương X) có những điều khoản quy định cụ thể nhằm ngăn ngừa tai nạn do vật đổ sập.
e) Vật văng bắn:
Thường gặp là phôi của các máy gia công như: máy mài, máy tiện, đục kim loại; gỗ đánh lại ở các máy gia công gỗ; đá văng trong nổ mìn, văng bắn dây dẫn điện đang căng trên đường dây điện....
Một số quy định trong quy trình an toàn điện đề phòng vật văng bắn vào đường dây đang vận hành:
- Dựng cột: Cấm đặt các phương tiện trục kéo ngay phía dưới dây dẫn của đường dây cao áp đang vận hành. Dây cáp kéo và cáp hãm phải bố trí sao cho khi dây cáp bị bật, đứt không thể văng về phía đường dây đang vận hành.Khoảng cách nhỏ nhất cho phép từ các dây cáp kéo và cáp hãm đến dây dẫn có điện như sau:
Cấp điện áp (kV) Khoảng cách nhỏ nhất cho phép (m)
Đến 220 6,0
500 8,0
50
- Làm việc trên đường dây đã cắt điện nhưng giao chéo hoặc song song với đường dây đang vận hành: Nếu có tháo hay lắp dây dẫn thì phải đề phòng khả năng dây bật lên trên đường dây có điện, bằng cách dùng dây thừng choàng qua dây dẫn ở cả hai đầu và ghì xuống đất.
f) Nổ
Nổ vật lý: Trong thực tế sản xuất có thể nổ khi áp suất của mỗi chất trong các thiết bị chịu áp lực, các bình chứa khí nén, khí thiên nhiên hoá lỏng vượt quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị bị rạn nút, phông móp, bị ăn mòn do sử dụng lâu. Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi người xung quanh. Nổ vật lý có thể xuất hiện trong các sự cố cháy máy biến áp, áp suất tăng cao có thể tạo ra sự văng bắn các chi tiết của máy như nắp máy biến áp hoặc có hiện tượng văng bắn, tràn dầu máy biến áp.
Nổ hóa học: Là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn phá hủy hoại các công trình, gây tai nạn cho người trong phạm vi vùng nổ. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn điện (quy chuẩn 12) cũng quy định các biện pháp phòng nổ tại vị trí nguy hiểm do thiếu oxy như sau: Oxy (Lớn hơn hoặc bằng 18%);
Cacbon monoxyt (Nhỏ hơn hoặc bằng 0,005%); Khí dễ cháy(Nhỏ hơn 30% giới hạn dưới gây nổ); Nhỏ hơn hoặc bằng 0,01%. Khi thông gió quy định: "Không được sử dụng khí Oxy nguyên chất để thông gió" nhằm mục đích loại trừ các yếu tố nguy hiểm do cháy nổ khí Oxy. Ngoài ra, trong kỹ thuật cách điện, người ta cũng sử dụng khí hidro làm khí cách điện cũng có những điều lưu ý khi để không khí lọt vào, với nồng độ hỗn hợp khí hydro và Oxy sẽ tạo nên hỗn hợp dễ nổ nên phải duy trì áp suất bên trong lớn để không khí không lọt vào.
Các chất có thể gây nổ hóa học bao gồm các khí cháy và bụi khi chúng hỗn hợp với không khí đạt đến một tỷ lệ nhất định kèm theo có mồi lửa thì sẽ gây nổ. Mỗi loại khí cháy nổ có thể nổ được khi hỗn hợp với không khí đạt được một tỷ lệ nhất định. Nổ hóa học cũng có thể xảy ra khi Axêtylen chiếm tỉ lệ từ 3,5 - 82% trong không khí, Amôniắc chiếm tỷ lệ từ 12 - 15% thể tích trong không khí.
Khoảng giới hạn nổ của khí cháy với không khí càng rộng thì sự nguy hiểm về giới hạn nổ hóa học càng tăng.
Nổ vật liệu nổ (nổ chất nổ): Sinh công rất lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không khí và gây chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định. Nổ vật liệu nổ cũng có thể xảy ra với các loại hợp chất tiền chất của vật liệu nổ như phân bón.
Trong các loại phân bón, phân đạm hai lá Ammonium Nitrate (NH4NO3) là loại dễ gây nổ nhất. Song, nó chỉ phát nổ khi cọ sát với sắt, thép trong nhiệt độ cao và ở điều kiện khô. Hợp chất Ammonium Nitrate khi được kết hợp với xăng dầu và một kíp nổ có thể trở thành một quả bom có sức công phá ngang với bom.
Nổ của kim loại nóng chảy: Khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị ướt khi thải xỉ....
Nguyên nhân chính của những vụ nổ này là sự tiếp xúc của chất lỏng, nước hay hơi ẩm
51
với kim loại nóng chảy. Sự truyền nhiệt nhanh chóng từ kim loại nóng chảy sang nước/
chất lỏng có thể gây ra những vụ nổ kinh hoàng. Khi tiếp xúc với kim loại nóng chảy ở nhiệt độ cao, nước có thể giản nở thể tích lên tới 1600 lần. Chính điều này đã gây ra các vụ nổ. Mức độ nguy hiểm của vụ nổ phụ thuộc vào lượng chất lỏng và mức độ năng lượng sinh ra, cùng với lượng kim loại nóng chảy đã tiếp xúc với chất lỏng.