CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ NGUY HIỂM, CÓ HẠI TRONG LAO ĐỘNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH
3.2. Yếu tố có hại đối với sức khỏe-trong lao động
Là những yêu tố của điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá giới hạn của tiêu chuấn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khỏe người lao động, gây bệnh nghề nghiệp. Đó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc, các sinh vật có hại.
a) Vi khí hậu xấu
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gôm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người. .
Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị....Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh...
- Cơ thể người thường có khả năng duy trì nhiệt độ lý tưởng là 37 0C. Vào bất kỳ thời điểm nào trong năm và trong các hoàn cảnh khác nhau, cơ thể có cơ chế điều hòa nhiệt để duy trì nhiệt độ cơ thể ở 37 0C bằng cách sản sinh nhiệt để làm ấm khi nhiệt độ môi trường lạnh hoặc đổ mồ hôi khi nhiệt độ môi trường quá nóng.
- Tuy nhiên, ở nhiệt độ cực đại, khi không khí nóng hoặc nóng hơn cơ thể, cơ chế điều hòa thân nhiệt của cơ thể không thể theo kịp. Khi cơ thể bị rối loạn quá trình điều nhiệt thì một số vấn đề sức khỏe liên quan đến nhiệt có thể xảy ra. Say nắng và say nóng là những bệnh nghiêm trọng nhất gây ra bởi các môi trường nóng, và gây nguy hiểm thực sự cho những người làm việc bên ngoài vào mùa hè.
- Trong tất cả các trường hợp, nguyên nhân gây ra sốc nhiệt là môi trường làm việc có nhiệt độ cao vượt quá khả năng chịu đựng của cơ thể. Nếu không có sự chăm sóc y tế ngay lập tức, đột quị vì nóng có thể gây tử vong cho người lao động. Trong thực tế, người ta đã chết vì đột quị do nóng trong công việc do các ngành nghề khác nhau, từ công nhân nông nghiệp đến người chơi bóng đá. Kiệt sức do nóng, ngất xỉu, chuột rút và phát ban (đỏ da) là các nguy cơ sức khoẻ có liên quan đến nhiệt độ có thể gây ra cho người lao động.
Những nạn nhân bị say nóng thường không nhận ra các triệu chứng của chính họ, vì vậy sự sống còn của họ phụ thuộc vào khả năng của đồng nghiệp phát hiện các triệu chứng và tìm kiếm sự trợ giúp và trợ giúp y tế ngay lập tức. Vì thế cần phải có các biện
52
pháp để ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe do nóng như: Tránh ánh nắng mặt trời trong điều kiện có thể; Uống nhiều nước mát (trung bình 1 lít mỗi giờ) trong điều kiện thời tiết nóng. Uống mỗi 15 đến 20 phút dù có cảm thấy khát hay không để thay thế sự mất nước qua mồ hôi. Tránh uống cà phê và rượu, có thể mất nước; Mặc quần áo thích hợp được làm bằng một loại vải nhẹ, mát.
Để thực hiện tốt công việc ngoài trời, phải thích nghi với môi trường nóng. Do vậy, nên thực hiện dần dần, thường xuyên nghỉ ngơi khi cần thiết. Kế hoạch cấp cứu phải bao gồm dịch vụ sơ cứu và chăm sóc y tế. Nơi làm việc có khả năng xảy ra sốc nhiệt cần theo dõi điều kiện lao động và đảm bảo rằng người lao động có thời gian nghỉ ngơi để sức khỏe được hồi phục.
Độ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, cơ thể khó bài tiết qua mồ hôi. Nhiệt độ và độ ẩm không khí đều là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sinh hoạt của con người. Điều hoà vật lý phụ thuộc nhiều vào da. Da ướt dễ truyền nhiệt hơn da khô.
Ở nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm cao người ta thấy khó chịu hơn khi độ ẩm thấp.
Ngoài ra, không khí ẩm làm tăng sức dẫn nhiệt của quần áo. Dựa trên những nghiên cứu khoa học thì mức độ ẩm không khí phù hợp nhất để duy trì thể trạng là 55-65%, tuy nhiên tại Việt Nam luôn có độ ẩm không khí cao trên 80% do đặc điểm khí hậu. Độ ẩm cân đối không chỉ giúp con người tránh được nhiều bệnh tật mà tinh thần còn được thoải mái, vận động đạt hiệu quả cao hơn. Ngược lại nếu độ ẩm cao hơn mức trên thì chúng ta dễ gặp phải các bệnh vặt như hen suyễn, đau khớp, đau đầu, bệnh ngoài da… Độ ẩm thấp hơn 50% lai gây ra tình trạng da khô, nứt nẻ, cơ thể mệt mỏi do mất nước.
Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật và giảm khả năng lao động của con người.
Sự chuyển động của không khí là một yếu tố quan trọng trong việc điều hoà thân nhiệt: Khi nhiệt độ không khí thấp hơn nhiệt độ da, sự đối lưu của không khí sẽ không ngừng đưa đến không khí mới và mát. Lúc đó luồng không khí làm tăng toả nhiệt bằng truyền dẫn. Ngoài ra lượng hơi nước lưu động thường xuyên trong không khí dưới mặt trong quần áo, do đó có thể làm tăng toả nhiệt bằng bốc hơi.
Trong trường hợp nhiệt độ không khí và nhiệt độ da chênh lệch nhau rất ít và lao động chân tay nặng, thì sự lưu thông của không khí lại càng quan trọng (vì truyền dẫn và bức xạ giảm nhiều).
Khi nhiệt độ không khí cao hơn nhiệt độ da, sự lưu động của không khí sẽ làm cho da tăng nóng và làm tăng thân nhiệt, do đó ảnh hưởng không tốt đến việc điều hoà thân nhiệt. Nhưng khi nhiệt độ cao, độ ẩm tương đối thấp có thể hút nhiều hơi nước sẽ giúp việc toả nhiệt bằng bốc hơi dễ dàng.
Nhiệt độ của tường, sân nhà, bề mặt thiết bị, nguyên liệu, thành phẩm... đều có liên quan với toả nhiệt theo cách bức xạ và chỉ khi nào nhiệt độ xung quanh cao hơn nhiệt độ cơ thể, cơ thể mới không toả nhiệt theo cách bức xạ. Đối với da người tia hồng ngoại
53
sóng ngắn, tử ngoại và tia thấy được có sức xuyên thấu mạnh. Như vậy khi đánh giá tác dụng của bức xạ nhiệt trong sản xuất đối với cơ thể thì phải xét không những cường độ của bức xạ mà còn cả thành phần quang phổ của bức xạ.
b) Tiếng ồn
Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm. .
Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn dễ gây các bệnh nghề nghiệp như điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén. Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ. Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh, dễ dẫn đến tai nạn lao động. Làm việc trong môi trường có nhiều tiếng ồn cũng ảnh hưởng đến điều kiện truyền lệnh và nhận lệnh chính xác. Do vậy, với điều kiện môi trường tồn tại nhiều tiếng ồn, việc khẳng định lại truyền lệnh và nhận lệnh và sử dụng dụng cụ hỗ trợ truyền lệnh là rất cần thiết trong quá trình thao tác trên lưới điện.
Tiếng ồn thường găp trong các nhà máy phát điện do các tua-bin gây nên, tại các trạm biến áp từ 110 kV trở lên do các cánh quạt tản nhiệt….Do đó, khi làm việc trong phạm vi có tiếng ồn mà không thể khắc phục được do điều kiện sản xuất, người lao động cần tuân thủ thực hiện nghiêm về quy định thời gian làm việc khi tiếp xúc tiếng ồn cùng với việc sử dụng trong bị phương tiện bảo vệ thính giác do người sử dụng lao động trang bị nhằm giảm thiểu tác hại bệnh nghề nghiệp do tiếng ồn gây nên được quy định tại thông tư 24/2016/TT-BYT ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn và Mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc” (QCVN 24/2016/BYT).
Trang bị bảo hộ cá nhân: Tại nơi làm việc, nếu chưa thực hiện được các giải pháp giảm mức áp suất âm xuống dưới 85 dBA thì phải thực hiện chế độ bảo vệ thính lực cho người lao động. Trang bị bảo vệ thính lực cho người lao động phải đạt yêu cầu ở bảng 3.
Yêu cầu trang bị cá nhân bảo vệ thính lực
Mức áp âm (dBA) Hiệu suất giảm ồn của trang bị bảo vệ thính lực (dBA)
<90 10-13
Từ 90 đến <95 14-17
Từ 95 đến <100 18-21
Từ 100 đến <105 22-25
Từ 105 đến <110 ≥ 26
c) Rung
Rung từng bộ phận có ảnh hưởng cục bộ xuất hiện ở tay, ngón tay khi làm việc với cưa máy, búa máy, máy đánh bóng. Rung gây ra chứng bợt tay, mất cảm giác, ngoài ra gây
54
thương tổn huyết quản, thần kinh, khớp xương, cơ bắp xúc giác và lan rộng, thâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn nội tiết.
Rung toàn thân thường xảy ra đối với những người làm việc trên phương tiện giao thông, máy hơi nước, máy nghiền... Chấn động làm co hệ thống huyết mạch, tăng huyết áp và nhịp đập tim. Tuỳ theo đặc tính chân động tạo ra thay đổi ở từng vùng, từng bộ phận trên cơ thể người.
d) Bức xạ và phóng xạ
• Nguồn bức xạ:
- Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại.
- Lò thép hồ quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại.
Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
• Phóng xạ:
Là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng ion hoá vật chất. Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ.
Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính; rối loạn chức năng của thần kinh trung ương nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong.
e) Chiếu sáng không hợp lý (chói quá hoặc tối quá)
Chiếu sáng không đảm bảo làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động, dễ gây ra tai nạn lao động. Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động. Quy trình an toàn điện quy định: “Nếu làm việc vào ban đêm phải có đủ ánh sáng”.
f) Bụi
Bụi là tập hợp của nhiều hạt có kích thước nhỏ bé tổn tại trong không khí; nguy hiểm nhất là bụi có kích thước từ 0,5 - 5 micrômét; khi hít phải loại bụi này sẽ có 70 - 80%
lượng bụi đi vào phổi và làm tổn thương phổi hoặc gây bệnh bụi phổi.
• Tính chất của bụi :
- Độ phân tán : Độ phân tán là trạng thái của bụi trong không khí phụ htuộc vào trọng lượng hạt bụi và sức cản không khí. Hạt bụi càng lờn càng dễ rơi tự do, hạt càng mịn thì càng rơi chậm, chính những hạt bụi mịn này gây nguy hiểm cho phổi nhiều hơn.
- Sự nhiễm điện của bụi : Dưới tác dụng của điện trường mạnh, các hạt bụi bị nhiễm điện và sẽ bị cực của điện trường hút với những vận tốc khác nhau tuỳ thuộc kích thước hạt bụi. Tính chất này của bụi được ứng dụng để lọc bụi bằng điện.
55
- Tính cháy nổ của bụi : Các hạt bụi càng nhỏ mịn, diện tích tiếp xúc với oxy càng lớn, hoạt tính hoá học càng mạnh, dễ bốc cháy trong không khí. Nếu có mồi lửa như tia lửa điện, các loại đèn không có bảo vệ lại càng nguy hiểm hơn.
- Tính lắng trầm nhiệt của bụi : Cho một luồng khói đi qua một ống dẫn từ vùng nóng chuyển sang vùng lạnh hơn, phần lớn khói bị lắng trên bề mặt ống lạnh, hiện tượng này là do các phần tử khi giảm vận tốc từ vùng nóng sang vùng lạnh. Sự lắng trầm của bụi được ứng dụng để lọc bụi.
• Phân loại nguồn gốc của bụi:
- Bụi hữu cơ: nguồn gốc từ động vật, thực vật - Bụi nhân tạo: nhựa, cao su...
- Bụi kim loại: sắt, đồng ...
- Bụi vô cơ: silic, amiăng ...
• Tác hại của bụi:
Mức độ nguy hiểm, có hại của bụi phụ thuộc vào tính chất lý học, hóa học của bụi:
- Bụi có thể gây cháy hoặc nổ ở nơi có điều kiện thích hợp; làm giảm khả năng cách điện của bộ phận cách điện, gây chập mạch;
- Gây mài mòn thiết bị trước thời hạn;
- Làm tổn thương cơ quan hô hấp xây sát, viêm kinh niên, tuỳ theo loại bụi có thể dẫn đến viêm phổi, ung thư phổi; Gây bệnh ngoài da, gây tổn thương mắt, bệnh trên đường tiêu hoá vv…
Khi chúng ta thở nhờ có lông mũi và màng niêm dịch của đường hô hấp mà những hạt bụi có kích thước lớn hơn 5m, bị giữ lại ở hốc mũi tới 90%. Các hạt bụi nhỏ hơn theo không khí vào tận phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào bao vây và tiêu diệt khoảng 90%, số còn lại đọng ở phổi gây ra một số bệnh bụi phổi và các bệnh khác.
Tác hại của bụi cũng còn liên quan đến độ hoà tan, độ cứng, hình dáng bụi, ngoài ra kích thước hình học của bụi ảnh hưởng đến diện tích tiếp xúc các cơ phận trong cơ thể
• Bệnh bụi phổi phổ biến hiện nay bao gồm:
Bệnh bụi phổi silíc (Silicose) là do bụi silic, hiện nay ở nước ta có tỷ lệ rất cao chiếm khoảng 87% bệnh nghề nghiệp. Thường gặp ở những công nhân khai thác khoan đá, thợ mỏ, thợ làm gốm sứ, vật liệu chịu lửa, vv
- Bệnh bụi phổi Amiăng (Asbestose) do bụi Amiăng.
- Bệnh bụi phổi than (Anthracose) do bụi than.
- Bệnh bụi phổi sắt (Siderose) do bụi sắt.
g) Các hóa chất độc
56
Hóa chất ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản như: Chì, Asen, Crôm, Benzen, rượu, các khí bụi, các dung dịch axít, bazơ, kiềm, muối, các phế liệu, phế thải khó phân hủy.
Hóa chất độc có thể ở trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi....tùy theo điều kiện nhiệt độ và áp suất.
Hóa chất độc có thể gây ảnh hưởng tới người lao động dưới dạng nhiễm độc cấp tính, nhiễm độc mạn tính. Hoá chất độc thường được phân loại thành các nhóm sau:
- Nhóm 1: Chất gây bỏng kích thích da như Axít đặc, Kiềm...
- Nhóm 2: Chất kích thích đưòng hô hấp như Clo, amoniắc, S03,...
- Nhóm 3: Chất gây ngạt như các oxít các bon (C02, CO), mê tan (CH4)...
- Nhóm 4: Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương như H2S (mùi trứng thối), xăng...
- Nhóm 5: Chất gây độc cho hệ thống cơ thể như hyđrôcacbon các loại (gây độc cho nhiều cơ quan), benzen, phênol, chi, asen ....
Khi tiếp xúc với hóa chất độc, người lao động có thể bị nhiễm độc qua đường tiêu hóa, đường hô hấp hoặc qua da. Trong đó, theo đường hô hấp là nguy hiểm nhất và chiếm tới 95% trường hợp nhiễm độc. Chất độc thâm nhập vào cơ thể và tham gia các quá trình sinh hoá có thể đổi thành chất không độc, nhưng cũng có thể biến thành chất độc hơn.
Một số chất độc xâm nhập vào cơ thể và tích tụ lại. Chất độc cũng có thể được thải ra khỏi cơ thể qua da, hơi thở, nước tiểu, mồ hôi, qua sữa…, tùy theo tính chất của mỗi loại hóa chất.
Hóa chất độc tồn tại trong một số vật liệu điện cần lưu ý:
- Khí freon (CCl2F2): dùng trộn lẫn với không khí để tăng độ bền cách điện ở một số thiết bị điện cao áp, độ bền cách điện gần bằng khí SF6, có tác dụng gây ăn mòn với đồng, thép, chì và một số điện môi hữu cơ. Độc hại trong điều kiện bình thường cũng như sản phẩm bị phân hủy dưới tác dụng hồ quang điện.
- Dầu sovol (C12H5Cl5),: là chất lỏng không màu, không cháy, mùi có tính độc, tính ăn mòn kim loại, gặp hồ quang điện sinh ra nhiều bồ hóng. Độ nhớt cao hơn dầu máy biến áp, không sử dụng cho MBA được. 2. Dầu sowton: Là dầu sovol pha loãng bằng triclobenzen (C6H3Cl3), loại này có thể dùng cho MBA được.
- Giấy Amiang Quinterra: làm bằng Amiang Crizotil, tẩm nhựa silicon, chịu được axit, bazơ, dầu. Chống ẩm và chịu nhiệt độ đến 2000C. điện áp đánh thủng 1550V với bề dày 0,1mm, dùng làm cách điện cuộn dây biến thế khô.
- Giấy mica Amiang: Đựơc sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi cơ tính cao mà đòi hỏi tính chịu nhiệt và cách điện cao. Sử dụng ở cuộn dây điện trở, phần tử đốt nóng, đệm ở nắp hộp khí cụ điện phân phối.