Nhóm giải pháp chi tiết tập trung vào các phương tiện truyền thông mới

Một phần của tài liệu Tổ chức hoạt động truyền thông của bộ y tế nhằm nâng cao nhận thức về dịch sốt xuất huyết tại khu vực hà nội (khảo sát từ năm 2017 đến năm 2018 tại khu vực hà nội (Trang 79 - 89)

Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA BỘ Y TẾ NHẰM KIỂM SOÁT TỐT DỊCH SỐT XUẤT HUYẾT

3.2 Nhóm giải pháp chi tiết tập trung vào các phương tiện truyền thông mới

3.2.1. Giải pháp cải thiện nguồn nhân lực

Nhƣ sơ đồ tổ chức và mô tả công việc của bộ phận truyền thông Bộ Y tế tác giả đề cập ở trên, Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng đã làm tốt về kiểm soát thông tin trên báo chí và mạng xa hội, tuy nhiên vẫn chƣa đủ nhân sự để phụ trách các mảng công việc giúp phát triển tối đa truyền thông tương tác. Cần có đội ngũ phát triển nội dung các kênh truyền thông tương tác của Bộ Y tế cho các chiến dịch truyền thông trên các kênh nhƣ Facebook, Youtube… dưới định hướng và kiểm soát Bộ Y tế. Tác giả đề xuất nên có đội ngũ cộng tác viên phụ trách phát triển nội dung trên các kênh mạng xã hội.

Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển của mạng xã hội và công nghệ thông tin, các thông tin tiêu cực lan tràn với tốc độ nhanh chóng và thông tin tiêu cực thường không được kiểm chứng và thường dễ kích động dư luận xã hội. Chủ trương minh bạch thông tin và thẳng thắn đối thoại chính là chiến lƣợc quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro do khủng hoảng gây ra. Bên cạnh đó thông tin trên mạng xã hội có tốc độ lan truyền nhanh, độ phủ lớn, đạt đƣợc hiệu quả cao cho các chiến dịch phòng chống dịch bệnh. Trong nhóm giải pháp phòng chống dịch bệnh SXH tác giả đề xuất sử dụng các mạng xã hội nhƣ facebook, youtube,… để chia sẻ kiến thức phòng chống dịch…Một số chiến dịch cần sử dụng kênh tin nhắn SMS để truyền thông.

3.2.2. Giải pháp xây dựng chiến lược truyền thông

Như đã phân tích ở trên, các phương tiện truyền thông mới phát huy hiệu quả tích cực trong việc tuyền truyền kiến thức phòng chống bệnh dịch, nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong phòng chống dịch bệnh SXH lây lan, tác giả đề xuất cần có chiến lược tổng thể trên các phương tiện truyền thông xã hội. Chiến lược truyền thông phải đóng vai trò định hướng và cung cấp thông tin cụ thể, dễ nhớ, dễ săn sâu vào đời sống của công chúng. Từ xây dựng kế hoạch, mục tiêu đạt đƣợc sẽ đƣợc đặt ra cụ thể và có thể còn đƣợc đo đếm bằng những con số thống kê cụ thể, rất có lợi cho quá trình làm việc và theo dõi.

Với chiến lược truyền thông sử dụng những phương tiện truyền thông mới trên nền tảng của mạng xã hội nhƣ facebook, youtube, tiktok…, ứng dụng các thành tựu công nghệ để lan truyền thông tin, giúp đối tƣợng tiếp nhận, quan tâm và đặc biệt kích thích đối tƣợng công chúng mục tiêu tham gia vào quá trình truyền thông.

Để nâng cao nhận thức người dân về dịch bệnh SXH, chiến dịch truyền thông cần trả lời đƣợc các câu hỏi: Mục tiêu phát triển chiến lược truyền thông để công chúng cùng tương tác là gì? Tại sao cần sản xuất nội dung và tạo ra chiến lược truyền thông? Làm sao để tăng cường nhận thức của người dân về dịch bệnh sốt xuất huyết? Khi có dịch bệnh người dân cần làm gì để tránh lây lan? Cần phải nắm các triệu chứng bệnh SXH như thế nào? Chăm sóc người bệnh mắc SXH ra sao?… Các mục tiêu trên đều có thể đƣợc nâng cao thông qua chiến lược truyền thông tương tác, được cụ thể hóa bằng các clip lan truyền trên facebook, youtube, các clip phỏng vấn các chuyên gia tƣ vấn….

Việc mở rộng khả năng của công chúng vào hoạt động giao tiếp đại chúng làm cho công chúng chỉ đơn thuần là đối tƣợng tiếp nhận thông điệp đƣợc truyền tải mà truyền thông đại chúng phải trở thành diễn đàn thể hiện dƣ luận xã hội về những vấn đề phản ánh các lợi ích, tạo nên mối quan tâm

chung của quần chúng nhân dân. Đây chính là điều kiện cơ bản nhằm tạo nên các tương tác xã hội tích cực và ổn định đối với hoạt động truyền thông đại chúng nói chung, truyền thông phòng, chống dịch bệnh nói riêng.

Bên cạnh đó, một số bài viết là những bài đặt của các chuyên gia ngành, nội dung của bài có thể có chất lƣợng, nhƣng ngôn ngữ lại là ngôn chuyên ngành sẽ mang tính học thuật cao, ít quan tâm đến trình độ của công chúng. Trong khi đối với kênh truyền thông mạng xã hội nhƣ Facebook, youtube công chúng có rất nhiều đối tƣợng khác nhau ở các trình độ học vấn khác nhau, vì vậy việc phát triển nội dung một cách đơn giản, dễ hiệu sẽ đạt hiệu quả tuyên truyền cao hơn. Thông qua phương tiện truyền thông trên mạng xã hội, người quản trị chiến dịch truyền thông có thể dễ dàng đo lường đƣợc hiệu quả chiến dịch từ các chỉ số: Mức độ quan tâm tới nội dung, tỉ lệ chia sẻ và độ lan tỏa, tăng trưởng lượt xem …

3.2.3. Giải pháp chọn lọc thông tin phù hợp với các kênh truyền thông Xây dựng nội dung trên các kênh truyền thông thu hút đƣợc sự chú ý, sự yêu thích, theo dõi của công chúng chính là mục tiêu mà người quản trị chiến dịch luôn muốn hướng đến.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Đình Thành: “Nguyên tắc quan trọng nhất của truyền thông hiệu quả là hiểu độc giả của mình đang nhận thông tin qua những kênh nào, vào thời điểm nào và theo cách nào. Vậy nên hãy bắt đầu bằng việc xác định chân dung và thói quen của khách hàng. Đặt mình vào vị trí của họ, liệu thông tin mình đƣa ra họ có quan tâm không? Có mang lại điều gì thực sự có ích cho họ không? Họ có tiếp nhận thông tin qua kênh mình chọn không? Mình đã nói đúng cách họ muốn nghe/nhìn không?”

Từ đó cho thấy tầm quan trọng của nội dung phù hợp cho từng kênh truyền thông. Phương pháp xác định nội dung được ưa chuộng có thể dựa trên những bản khảo sát hoặc dựa trên thống kê lƣợt đọc, lƣợt xem và chia sẻ của

các bài viết, từ đó lựa chọn ra những nội dung phù hợp từng kênh truyền thông để xây dựng nội dung truyền thông cho phù hợp với đối tƣợng công chúng mục tiêu.

Khi đã xác định rõ thực trạng của các kênh truyền thông, điều quan trọng trước tiên là đảm bảo bản thân chúng hoạt động một cách tích cực và phù hợp với ngân sách đưa ra bằng việc duy trì, tăng cường các công cụ hoạt động tốt và nâng cao, cải thiện các công cụ hoạt động chƣa hiệu quả. Tác giả đề xuất các kênh truyền thông cho chiến dịch tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bệnh SXH như các mục dưới đây.

3.2.3.1. Cổng thông tin tra cứu về bệnh SXH

Tất cả các kênh truyền thông về PCDB sốt xuất huyết khi đƣợc lan tỏa đi, cần đƣợc dẫn tới một kênh thông tin tổng hợp lại về bệnh SXH, các triệu chứng, biến chứng, các xét nghiệm và cách phòng bệnh sốt xuất huyết cho người dân tra cứu. Tác giả đề xuất xây dựng một chuyên trang đăng tải đẩy đủ các thông tin về bệnh SXH. Có thể là một trang con thuộc website của Cục Y tế dự phòng hoặc một mục trên báo điện tử Sức khỏe & Đời sống.

3.2.3.2 . Mạng xã hội Facebook và Youtube:

Facebook nói riêng và nhiều mạng xã hội khác nói chung đã trở thành một công cụ có hiệu quả rất lớn khi tích hợp điểm nhanh và liên tục của báo mạng, sự hấp dẫn trong hình ảnh và âm thanh của báo hình, báo viết và hơn cả là khả năng lôi kéo công chúng, thuyết phục cao của marketing truyền miệng - „worth of mouth’. Các facebooker, blogger giờ đây đã có quyền lực không thua kém báo chí. Các nhà Marketing, quản trị truyền thông đã phải thừa nhận mạng xã hội là một kênh „worth of mouth‟ mới vô cùng hiệu quả.

Thông qua những “thủ thuật” đƣợc các chuyên gia marketing “phù phép” đã biến rất nhiều chiến dịch quảng cáo trở nên “bất hủ”, khiến bất cứ marketer nào cũng muốn học hỏi.

Tận dụng sức mạnh của mạng xã hội, các nhà quản trị truyền thông tiến hành xây dựng các chiến dịch truyền thông phòng chống dịch bệnh SXH thông qua việc phát triển nội dung có khả năng lan tỏa lớn, đánh vào tâm lý người xem, thông qua đó truyền tải các thông điệp truyền thông . Các clip viral cần nhắm được tới đối tượng công chúng mục tiêu mà chiến dịch hướng tới. Để làm được điều đó, người quản trị cần cụ thể hóa các nhóm công chúng và đánh giá về mức độ tác động của họ đối với bệnh viện qua Facebook, YouTube, phải phân loại công chúng thành những nhóm nhỏ. Trong đề tài nghiên cứu "Truyền thông xã hội: Những quan hệ ảo của công chúng thực"

của PGS.TS Nguyễn Quý Thanh và ThS Nguyễn Thị Kim Nhung cũng trong hội thảo "Truyền thông xã hội – Truyền thông cổ điển và dƣ luận xã hội" nói trên, nhóm tác giả đã phân loại công chúng trên truyền thông xã hội thành 10 nhóm. Bao gồm các nhóm sau:

- Nhóm 1 là những công chúng thụ động, theo dõi nhƣng không tham gia - Nhóm 2 là công chúng chỉ bấm nút thích, ngoài ra không tham gia nhiều hơn

- Nhóm 3 là những người tìm kiếm các giao dịch

- Nhóm 4 là những công chúng không hài lòng và thường phản đối - Nhóm 5 là nhóm công chúng có tác động tiêu cực

- Nhóm 6 là thủ lĩnh, những người thường bình luận có chất lượng, bấm nút thích, chia sẻ và dẫn lại các chủ đề đã đăng tải.

- Nhóm 7 là những người hâm mộ của fanpage, họ ủng hộ và bình luận tích cực nhƣng không ở mức độ dẫn dắt nhƣ thủ lĩnh.

- Nhóm 8 là nhóm tìm kiếm và có tâm thế kiểm chứng mọi thông tin - Nhóm 9 là những người chỉ có nhu cầu giải trí, thường phản hồi vô thưởng vô phạt nhưng nhìn chung cũng nên giữ lại fanpage

- Nhóm 10 là nhóm kết bạn, những người chỉ tìm thêm bạn mới

Các nhóm công chúng trên đây đƣợc phân loại một cách rất tỉ mỉ, khác về bản chất và có những tác động khác nhau đối với hiệu quả hoạt động của fanpage. Sự phân loại này có thể không có nhiều ý nghĩa với công chúng, nhƣng lại rất cần thiết với đội ngũ, cá nhân trực tiếp đảm nhận vai trò quản trị fanpage. Việc phân loại các đối tƣợng thích trang Fanpage sẽ giúp đội ngũ quản trị viên và đội ngũ phát triển nội dung đƣa ra đƣợc hướng đi đúng cho page, giúp tăng lượng người theo dõi. Ngoài ra, các kênh này có thể phát triển nguồn độc giả dựa vào quảng cáo trên Facebook, Youtube, nhƣng nó cũng cần có sự kết hợp của các nội dung bài có giá trị và đủ thu hút người đọc. Không những vậy, với xu hướng truyền thông thông qua video được dự đoán sẽ tăng nhanh trong một vài năm tới, người làm truyền thông cần nhanh chóng nắm bắt xu hướng và tạo ra những ý tưởng video độc đáo về nội dung và bắt mắt về hình ảnh, thậm chí trang bị cho mình kỹ năng biên tập và sản xuất video, để bắt kịp những thay đổi từng ngày về thị hiếu và công nghệ trên mạng xã hội.

Nhóm trên facebook:

Ngoài các kênh Fanpage chính thức, một công cụ rất mạnh của facebook hỗ trợ các nhà quản trị truyền thông xây dựng cộng đồng đó chính là tính năng Nhóm của facebook. Từ thực tế cho thấy, hiện nay rất nhiều bệnh viện đã phát triển thành công việc xây dựng cộng đồng và chăm sóc khách hàng dựa vào tính năng Nhóm – Group của facebook. Các bệnh viện tạo ra nhóm công chúng là các khách hàng mục tiêu để thuận tiện trong việc nắm bắt thông tin phản hồi của công chúng. Tham gia tương tác trong các nhóm có cả đội ngũ y bác sĩ của bệnh viện. Các thành viên có thể chia sẻ những câu hỏi thắc mắc xung quanh các vấn đề cần quan tâm nhƣ: Triệu chứng bệnh, cách khắc phục, cách chăm sóc bệnh nhân…. Tất cả các câu hỏi thắc mắc trên nhóm đều được các bác sĩ tham gia trả lời và tư vấn trực tiếp cho người hỏi.

Khi tổ chức các hoạt động truyền thông phòng chống dịch bệnh SXH, nhà quản trị truyền thông nên dụng tính năng Nhóm của Facebook, kết hợp với đội ngũ quản trị viên trên các Group có lƣợng thành viên lớn để truyền tin, nâng cao hiệu quả truyền thông, phòng chống dịch bệnh.

Facebook của những người ảnh hưởng (KOLs):

Một kênh tiếp theo đƣợc sử dụng làm kênh truyền thông trên mạng xã hội vô cùng hiệu quả đó chính là kênh Facebook của KOLs (Key opinion leaders) - Những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội. Đây là kênh bộ phận truyền thông có thể không chủ động đặt hàng đăng bài mà đều từ những trải nghiệm thực tế của các KOLs và từ đó có những bài chia sẻ hữu ích cho cộng đồng về việc phòng tránh bệnh sốt xuất huyết. Thông thường, những bài viết chia sẻ của các KOLs có tầm ảnh hưởng hơn nhiều so với những bài trên facebook chính của các bệnh viện đƣa ra. Những bài viết này không chỉ giúp lan truyền thông tin, cách phòng tránh bệnh SXH, cách xử trí khi bị SXH… từ các bác sĩ nổi tiếng đến người hâm mộ KOLs mà còn giúp người bệnh tiếp xúc nguồn thông tin chuẩn, có thêm kiến thức để chủ động phòng tránh bệnh ngay từ sớm.

Hình 3.1 - Nhóm Facebook của Bệnh Viện Phụ Sản Hà Nội

Qua đó ta thấy, kênh KOLs dù là kênh thu về lượng tương tác khá lớn, không phải mất nhiều chi phí nhƣng các nhà quản trị truyền thông lại chƣa có sự đầu tƣ và phát triển, chƣa biết tận dụng và có kế hoạch truyền thông phù hợp để phát triển kênh truyền thông tiềm năng này. Tác giả đề xuất, cần có kế hoạch cụ thể đƣa kênh truyền thông KOLs vào các chiến dịch truyền thông phòng chống dịch bệnh SXH để nâng cao hiệu quả các chiến dịch truyền thông.

3.2.3.3. SMS marketing

SMS Marketing y tế thực chất là sự kết hợp giữa kiến thức marketing cơ bản với sự am hiểu về lĩnh vực y tế, từ đó đƣa ra một chiến lƣợc phù hợp.

Tuy nhiên sự kết hợp này không phải ai cũng làm đƣợc và nó yêu cầu tính khoa học cũng nhƣ sáng tạo cao. SMS Marketing là hình thức quảng cáo tới khách hàng thông qua sms. Hình thức SMS Marketing rất hiệu quả và đƣợc rất nhiều người sử dụng hiện nay, các thông điệp truyền thông qua kênh SMS sẽ gửi trực tiếp đến khách hàng/công chúng tiềm năng, mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí và thời gian.

Hình 3.2 - Bài viết về SXH trên facebook của KOL là bác sĩ

Hình 3.3 - SMS Marketing ứng dụng trong chiến dịch truyền thông

phòng chống SXH

Bệnh sốt xuất huyết đến nay chƣa có vắc xin phòng bệnh và chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu, biện pháp phòng bệnh chủ yếu và hiệu quả là diệt muỗi, diệt loăng quăng/bọ gậy và phòng muỗi đốt.

Để tích cực phòng bệnh cho bản thân, gia đình và mọi người xung quanh, Bộ Y tế gửi khuyến cáo tới người dân qua SMS trên diện rộng. Tuy nhiên các thông điệp chƣa đƣợc chú trọng, các chiến dịch còn nhỏ lẻ nên chƣa phát huy đƣợc tối đa hiệu quả của chiến dịch ruyền thông qua SMS. Tác giả đề xuất cần đƣa kênh SMS marketing vào chiến lƣợc truyền thông tổng thể phòng chống dịch bệnh SXH.

Tiểu kết chương 3

Trong chương 3, tác giả đã trình bày các nhóm giải pháp tổng thể cho nhà quản lý và nhóm giải pháp chi tiết cho các chiến dịch truyền thông phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết trước khi có dịch và sau khi dịch đã xảy ra.

Trong đó, tác giả đã chỉ rõ vai trò của công tác chỉ đạo phòng chống dịch của các cơ quan ban ngành liên quan, đặc biệt tác giả nhấn mạnh việc tăng cường sử dụng các kênh truyền thông mới để nâng cao hiệu quả các chiến dịch truyền thông phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết.

Trên cơ sở phân tích những thực trạng đã trình bày ở chương 2 luận văn, tác giả đã đề xuất nhóm giải pháp truyền thông ứng dụng công nghệ khi tổ chức các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân về dịch bệnh sốt xuất huyết. Nhóm giải pháp nhấn mạnh các yếu tố liên quan đến việc phổ cập thông tin tới tận tay người dân, sử dụng các kênh mạng xã hội, sms marketing và viral markeing trong các chiến dịch truyền thông.

Một phần của tài liệu Tổ chức hoạt động truyền thông của bộ y tế nhằm nâng cao nhận thức về dịch sốt xuất huyết tại khu vực hà nội (khảo sát từ năm 2017 đến năm 2018 tại khu vực hà nội (Trang 79 - 89)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)