Thực trạng sử dụng thuốc tại Việt Nam

Một phần của tài liệu Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2019 (Trang 20 - 26)

1.3.1. Thực trạng sử dụng vị thuốc cổ truyền tại Việt Nam.

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc kế thừa, phát huy và phát triển nền Y học cổ truyền (YHCT) Việt Nam; vì mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế, ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc “Tây”.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu rõ: Hoàn thiện và củng cố mạng lưới YHCT. Vận động, khuyến khích và hướng dẫn nhân dân nuôi, trồng và sử dụng các loại cây, con làm thuốc chữa bệnh.

Nghị quyết số: 46 – NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, tiếp tục khẳng định: phát triển đồng thời y tế phổ cập và y tế chuyên sâu;

kết hợp Đông y và Tây y [1]. Ngày 04/7/2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số: 24 – CT/TW về “phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội đông y Việt Nam trong tình hình mới” (Chỉ thị 24 – CT/TW) [20]. Nhằm thể chế hóa Chỉ thị 24 – CT/TW, ngày 30/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số: 2166/QĐ – TTg về việc “Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”[19].

Mục tiêu cụ thể trong Kế hoạch hành động của Chính phủ là đến năm 2020:

100% viện có giường bệnh, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, có Khoa y dược cổ truyền (YDCT); 100% Phòng khám đa khoa và trạm y tế xã, phường, thị trấn có Tổ YDCT do thầy thuốc Y dược cổ truyền của trạm y tế phụ trách;

khám, chữa bệnh bằng YHCT: tuyến trung ương đạt 15%, tuyến tỉnh đạt 20%, tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 40% [19].

Đồng thời, nhiều tổ chức và hội nghị quốc tế về YHCT đã lên tiếng kêu gọi coi trọng, phát huy và phát triển YHCT vì tính sẵn có, hiệu quả và giá cả hợp lý với thu nhập của số đông người dân (Chiến lược YHCT của WHO 2014 – 2023; Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 2, năm 2010 tại Hà Nội…)

Từ các bài thuốc cổ phương, cây thuốc quý được bảo tồn, duy trì, việc nghiên cứu sản ra các chế phẩm mới từ các bài thuốc, cây thuốc cũng được các bệnh viện chú trọng, phát triển mạnh được người dân tin tưởng sử dụng và tạo thương hiệu, uy tín cho bệnh viện.

Một số nghiên cứu về thực trạng sử dụng vị thuốc cổ truyền đã được tiến hành nhằm hỗ trợ cho việc hoạch định kế hoạch và các giải pháp can thiệp nhằm tăng cường việc sử dụng vị thuốc cổ truyền đạt hiệu quả cao trong phòng và điều trị bệnh:

Bảng 1. 1. Thực trạng sử dụng vị thuốc cổ truyền tại các bệnh viện YHCT

STT Tên Bệnh viện Số lượng Giá trị sử dụng (đồng)

Số nhóm tác dụng 1 Bệnh viện YHCT Hà Đông năm 2017

[17] 164 6.426.549.309 15

2 Bệnh viện YHCT-PHCN Bình Thuận

năm 2018 [16] 152 2.125.332.435 21

3 Bệnh viện YHCT TW năm 2018 [18] 291 21.550.820.000 21 4 Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm

2017 [12] 185 2.200.000.000 27

1.3.2. Thực trạng sử dụng vị thuốc cổ truyền theo nguồn gốc xuất xứ.

Y học cổ truyền đã chứng minh được các thảo dược truyền thống có tác dụng rất tốt trong việc cân bằng âm - dương cho cơ thể. Chúng không chỉ phát huy tốt công dụng đối với việc hỗ trợ đẩy lùi các bệnh cấp tính mà còn tương đối hiệu nghiệm đối với các bệnh mạn tính [24].

Nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước ngày càng tăng và các doanh nghiệp ngày càng tham gia nhiều vào lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ dược liệu. Trong khi đó dược liệu Việt Nam ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức và còn tự phát, quy mô nhỏ chưa có định hướng phát triển nên dẫn đến sản lượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động.

Nguồn dược liệu của nước ta chủ yếu nhập từ Trung Quốc dẫn đến giá dược liệu cao, khó kiểm soát được chất lượng và không chủ động được số lượng cung ứng. Việc trồng trọt dược liệu trong nước còn phát triển tự phát, chưa có quy hoạch. Hiện nay, tại các cơ sở khám chữa bệnh GTSD của các vị thuốc cổ truyền nhập khẩu (nguồn gốc Bắc) vẫn còn chiếm đa số so với sử dụng thuốc nguồn gốc nam, thuốc sản xuất trong nước. Cụ thể như sau:

Bảng 1. 2. Cơ cấu sử dụng vị thuốc cổ truyền theo nguồn gốc, xuất xứ của một số bệnh viện

STT Tên Bệnh viện

Nguồn gốc

Tổng cộng SKM Thuốc sản xuất

trong nước (Nam) Thuốc nhập khẩu (Bắc) SKM Tỷ lệ

%

Tỷ lệ GTSD

SKM Tỷ lệ

%

Tỷ lệ GTSD

1

Bệnh viện

YHCT Hà

Đông năm 2017 [17]

94 57,32 25,12 70 42,68 74,88 164

2

Bệnh viện YHCT-PHCN Bình Thuận năm 2018 [16]

88 57,89 21,00 64 42,11 79,00 152

3

Bệnh viện

YHCT TW

năm 2018 [18]

134 15,12 8,31 157 17,72 24,11 291

4

Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 [12]

98 53,0 29,6 87 47,0 70,4 185

Qua bảng trên cho ta thấy, tuy SKM giữa vị thuốc nhập khẩu và vị thuốc sản xuất trong nước gần như ngang bằng nhau nhưng GTSD rất chênh lệch, các bệnh viện tốn rất nhiều chi phí để mua vị thuốc nhập khẩu.

Vì vậy nhà nước cần có chính sách phát triển nuôi trồng dược liệu, cây con làm thuốc tại Việt nam.

1.3.3. Thực trạng sử dụng thuốc cổ truyền (trừ vị thuốc cổ truyền), thuốc dược liệu.

Đối với các bệnh viện YHCT điều làm nên sự khác biệt giữa các bệnh viện chính là các thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu do bệnh viện tự sản xuất.

Công thức được xây dựng dựa trên các bài thuốc cổ phương gia giảm hoặc các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Nhà nước của cán bộ bệnh viện được

Bên cạnh đó còn sử dụng các thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu mua ngoài của các công ty cung ứng thông qua hình thức đấu thầu để phối hợp điều trị làm tăng hiệu quả điều trị. Với mỗi bệnh viện thì số lượng cũng như nhu cầu sử dụng giữa thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu bệnh viện tự sản xuất và mua ngoài là khác nhau. Cụ thể

Bảng 1. 3. Cơ cấu sử dụng thuốc cổ truyền (trừ vị thuốc cổ truyền), thuốc dược liệu

STT Tên Bệnh viện

Thuốc cổ truyền (trừ vị thuốc cổ truyền), thuốc dược liệu

Tổng cộng SKM BV tự sản xuất Mua ngoài

SKM Tỷ lệ%

Tỷ lệ

GTSD SKM Tỷ lệ

%

Tỷ lệ GTSD

1

Bệnh viện YHCT Hà Đông năm 2017 [17]

11 3,43 8,05 11

2

Bệnh viện YHCT-PHCN

Bình Thuận năm 2018 [16]

42 11,63 54,87 42

3

Bệnh viện YHCT TW năm 2018 [18]

32 56,14 84,68 25 43,86 15,32 57

4

Bệnh viện YHCT tỉnh

Vĩnh Phúc năm 2017 [12]

25 65,8 83,7 13 34,2 16,3 38

1.3.4. Thực trạng sử dụng thuốc generic, biệt dược gốc.

Báo cáo của BHXH Việt Nam cho thấy, trong các năm 2018, 2019, quỹ BHYT thanh toán cho tiền thuốc hóa dược khoảng 37.000 tỷ đồng, trong đó, riêng biệt dược gốc là 11.500 tỷ đồng, chiếm 26,5%. Đây là con số khá cao so với các nước trên thế giới [23].

Một số địa phương có thanh toán BHYT cho biệt dược gốc chiếm tỷ lệ cao như thành phố Hồ Chí Minh chiếm 44,5%, Hà Nội 38,9% do có nhiều bệnh viện tuyến cuối; tập trung chi vào các bệnh như ung thư, tim mạch, tiêu

hóa… Theo so sánh, nếu thay thế những loại biệt dược gốc bằng thuốc generic nhóm 1 (tạm gọi là thuốc tương đương thuốc phát minh), Hà Nội có thể tiết kiệm được 279 tỷ đồng và thành phố Hồ Chí Minh tiết kiệm được 523 tỷ đồng [23].

Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước từng bước tăng dần qua các năm và chiếm tỷ lệ cao hơn thuốc nhập khẩu. Tuy nhiên, do giá biệt dược gốc cao gấp nhiều lần thuốc generic nên phần lớn các công ty sản xuất, kinh doanh dược phẩm vẫn muốn duy trì cung cấp, lưu hành dù nhiều loại đã hết bản quyền, đã có thuốc generic tương đương. Trong khi đó, các công ty này không đưa ra được các nghiên cứu chứng minh biệt dược gốc có tác dụng điều trị tốt hơn hẳn thuốc generic tương đương. Ngược lại, cũng không có nhiều nghiên cứu khẳng định thuốc generic tương đương có tác dụng điều trị tốt bằng hoặc hơn biệt dược gốc.

Với mục tiêu đảm bảo nguồn thuốc chất lượng tốt phục vụ khám, chữa bệnh với chi phí hợp lý, Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan thực hiện các giải pháp giảm sử dụng biệt dược gốc, đồng thời tăng cường sản xuất thuốc trong nước nhằm tiết kiệm chi phí từ Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) và chi phí người dân.

Sử dụng các thuốc generic là một trong những cách làm giảm chi phí cho điều trị. Đây cũng là một trong những tiêu chí Bộ Y tế đưa ra trong việc lựa chọn thuốc sử dụng trong bệnh viện. Thực trạng sử dụng cụ thể tại một số bệnh viện YHCT như sau:

Bảng 1. 4. Cơ cấu sử dụng thuốc generic, biệt dược gốc

STT Tên Bệnh viện

Nhóm thuốc

Tổng cộng SKM

Biệt dược gốc Generic

SKM Tỷ lệ%

Tỷ lệ

GTSD SKM Tỷ lệ

%

Tỷ lệ GTSD 1

Bệnh viện YHCT Hà Đông năm

2017 [17]

47 32,19 72,21 99 67,81 28,79 146

2

Bệnh viện YHCT-PHCN Bình Thuận năm

2018 [16]

0 0 0 167 100 100 167

3

Bệnh viện YHCT TW năm 2018

[18]

88 16,36 41,01 450 83,64 52,59 538

Một phần của tài liệu Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2019 (Trang 20 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(99 trang)