Về cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng

Một phần của tài liệu Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2019 (Trang 73 - 76)

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1.2. Về cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng

- Thuốc cổ truyền (trừ vị thuốc cổ truyền), thuốc dược liệu do bệnh viện tự sản xuất: Gồm 21 thuốc được xây dựng theo các bài thuốc cổ phương và các đề tài nghiên cứu cấp bộ, nhà nước, đều đã được bảo hiểm thanh toán.

Chủ yếu liên quan đến các bệnh mạn tính như xương khớp, mỡ máu, hô hấp, gan, đại tràng, thận, trĩ và một số thuốc bổ. Tuy số khoản mục không lớn nhưng lại chiếm GTSD lớn gần 12,5 tỷ đồng. Kết quả này cao hơn hẳn so với Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 chỉ có 1.313.657.838 đồng [12], nhưng lại thấp hơn Bệnh viện YHCT TW năm 2018 (20.011.840.000 đồng) [18].

Bên cạnh đó, có một số thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu bệnh viện vẫn mua ngoài trong khi có sản xuất như Viên nén Kim tiền thảo (BCA), Diệp hạ châu, Viên hoạt huyết dưỡng não (BCA). Đây là những thuốc bệnh viện mới đưa vào sản xuất nên số lượng ít, chưa đáp ưng nhu cầu điều trị. Do đó trong thời gian tới bệnh viện cần tiếp tục đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm mới đồng thời duy trì phát triển những sản phẩm đã khẳng định được hiệu quả điều trị để tăng doanh thu cho bệnh viện khi bệnh viện đang dần đi vào tự chủ về tài chính. Tương tự, theo kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018 cũng có 3 thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu bệnh viện tự sản xuất được nhưng vẫn mua ngoài [18].

- Vị thuốc cổ truyền: Có GTSD là 11.247.859.368 đồng với 28 nhóm y lý. Các nhóm có giá trị sử dụng cao gồm: nhóm bổ khí cao nhất chiếm

bổ huyết chiếm 11,27%, thứ tư nhóm hoạt huyết khứ ứ chiếm 11,23%....Tuy các nhóm này không phải cao nhất về SKM nhưng lại chiếm GTSD cao, điều này cho thấy các vị thuốc của các nhóm này đều được sử dụng và đây là các nhóm chính trong các bài thuốc, thang thuốc của YHCT. Khi tiến hành phân tích nhóm thuốc bổ khí theo kết quả tại bảng 3.5 cho thấy, 3 vị thuốc dùng nhiều nhất đều có nguồn gốc nhập khẩu và chiếm tỷ lệ % GTSD trong nhóm lần lượt là 28,78%, 26,35% và 19,12%. Do các vị thuốc của nhóm thuốc bổ khí có nhu cầu dùng nhiều nhưng đều nhập khẩu nên để tránh bị động trong vấn đề cung ứng thì bệnh viện cần có kế hoạch đặt hàng và số lượng đảm bảo trong trường hợp nhập khẩu khó khăn như thời gian vừa qua khi chịu ảnh hưởng của dịch bệnh.

Tỷ lệ tiêu thụ các nhóm thuốc này cao hơn hẳn so với các nhóm khác là phù hợp do đối tượng bệnh nhân đến khám đa phần là các bệnh nhân cao tuổi, mắc các bệnh mạn tính tim mạch, xương khớp, suy nhược do tuổi già…và điều trị đông y được các bệnh nhân lựa chọn.

Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 nhóm bổ khí chiếm 17,9% GTSD, nhóm bổ huyết chiếm 13,0% GTSD, nhóm hoạt huyết khứ ứ chiếm 10,4% [12], Bệnh viện YHCT TW năm 2018 nhóm bổ khí chiếm 15,72% GTSD, nhóm hoạt huyết khứ ứ chiếm 14,68% GTSD, nhóm bổ huyết chiếm 11,56% [18].

- Thuốc cổ truyền (trừ vị thuốc cổ truyền), thuốc dược liệu mua ngoài:

Gồm 23 thuốc có GTSD là 3.753.329.020 đồng với 8 nhóm tác dụng, tập trung sử dụng chủ yếu vào nhóm an thần, định chí, dưỡng tâm do bệnh viện chưa tự sản xuất.

- Thuốc hóa dược: Gồm 524 khoản mục với số tiền là 20.022.653.136 đồng chiếm GTSD là 42,21% tổng số tiền thuốc sử dụng năm 2019. Theo Bảng 3.8 ta thấy 3 nhóm có tỷ lệ GTSD cao nhất nhóm thuốc hóa dược là:

nhóm Thuốc tim mạch 18,18% GTSD; Hormon và các thuốc tác động vào hệ

nội tiết chiếm 12,57% GTSD; Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn 11,53% GTSD. Kết quả này cho thấy bệnh viện cấp phát thuốc BHYT cho nhiều đối tượng bệnh nhân, chủ yếu là tim mạch, đái tháo đường và rối loạn chuyển hoá.

Nhóm thuốc Tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất cả về GTSD và SKM.

GTSD thuốc nhóm này cao nhất cũng phản ánh đúng với mô hình bệnh tật tại bệnh viện năm 2019 với số lượng bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến tim mạch (các bệnh cao huyết áp, đau thắt ngực….) chiếm tỷ lệ cao nhất với 34.934 lượt bệnh nhân khám. Đứng thứ 2 là nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết về GTSD và đứng thứ 3 số khoản mục đáp ứng 18.329 lượt bệnh nhân tới khám. Như vậy, số lượng hai nhóm thuốc này được dùng nhiều nhất điều này có thể giải thích một phần là do các bệnh nội tiết thường liên quan đến tim mạch, huyết áp, mỡ máu, và đối tượng mắc các bệnh tiểu đường rối loạn chuyển hóa thường là những người trung và cao tuổi. Bệnh ĐTĐ có biến chứng đáng kể là biến chứng mạch máu với các biểu hiện là bệnh mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và bệnh lý thần kinh. Các bệnh về tuyến giáp đều có ảnh hưởng đến tim mạch như bệnh cường giáp làm nhịp tim nhanh, tăng huyết áp có thể dẫn đến rung nhĩ, suy tim; bệnh suy giáp gây nhịp tim chậm, huyết áp thấp, có thể suy tim.

Kết quả này tương tự kết quả tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018, Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 khi nhóm thuốc tim mạch đều chiếm tỷ lệ giá trị sử dụng cao nhất lần lượt là 29,35% và 33,6% [12], Bệnh viện YHCT Hà Đông năm 2017 nhóm Hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết chiếm tỷ lệ GTSD cao nhất 36,18% [17].

Bên cạnh các nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nêu trên, nhóm khoáng chất và vitamin là một nhóm thuốc cần được chú ý trong sử dụng vì dễ bị lạm dụng, đặc biệt sử dụng trong kê đơn với vai trò là thuốc bổ. Trong năm 2018,

chiếm 1,07% GTSD. Kết quả thu được thấp hơn Bệnh viện YHCT Hà Đông năm 2017 có 8 khoản mục chiếm 10,60% về GTSD [17], Bệnh viện YHCT TW năm 2018 có 24 khoản mục chiếm 4,26% về GTSD [18].

Kết quả phân tích cho thấy sự đa dạng trong DMT tại Bệnh viện YHCT - BCA nói riêng cũng như các bệnh viện YHCT khác nói chung. DMT bao gồm cả thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền (kể cả vị thuốc cổ truyền), thuốc dược liệu do bệnh viện tự sản xuất và mua ngoài. Sự đa dạng này đã khẳng định các bệnh viện YHCT bên cạnh thế mạnh về YHCT còn kết hợp với YHHĐ để tăng hiệu quả điều trị và đang đà phát triển bắt kịp các bệnh viện đa khoa.

Một phần của tài liệu Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2019 (Trang 73 - 76)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(99 trang)