Về phân tích DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT - BCA năm 2019

Một phần của tài liệu Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2019 (Trang 82 - 87)

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.2. Về phân tích DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT - BCA năm 2019

4.2.1. Về phân tích ABC.

Kết quả phân tích ABC cho thấy cơ cấu mua sắm thuốc sử dụng chưa hợp lý ở thuốc hạng B với 15,15% kinh phí được sử dụng cho thuốc hạng B với 114 thuốc chiếm 20,07% SKM; 79,81% kinh phí được sử dụng cho thuốc hạng A với 64 thuốc chiếm 11,27% SKM; còn lại là thuốc hạng C với 390 thuốc chiếm 68,66% SKM và 5,04% kinh phí sử dụng.

Kết quả phân tích ABC tại Bệnh viện YHCT – Phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 cũng cho kết quả tương tự 79,22% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 11,48% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng A), 15,20% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 16,75% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng B) và 5,58% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 71,77% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng C) [16]. Tại Bệnh viện YHCT Vĩnh Phúc năm 2017 cũng cho kết quả: 79,4% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 18,1% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng A), 15,5% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 21,9% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng B) và 5,1% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 60% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng C) [12]. Tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018 cũng có kết quả tương tự:

79,80% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 15,63% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng A), 15,5% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 20,84% số lượng

DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng B) và 5,05% chi phí tiền thuốc phân bổ cho 63,53% số lượng DMT của tổng nhu cầu thuốc (hạng C) [18].

Các thuốc hạng A được phân thành 15 nhóm điều trị, trong đó chiếm tỷ lệ tiêu thụ cao nhất là nhóm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu do bệnh viện sản xuất chiếm 41,84% GTSD. Khi tiến hành phân tích các thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu do bệnh viện sản xuất thuộc thuốc hạng A cho thấy 14 thuốc chiếm 33,39% tổng GTSD của toàn bộ DMT và gần bằng 1/2 GTSD của các thuốc hạng A. Điều này cho thấy cơ cấu thuốc hạng A tập trung chủ yếu vào thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu do bệnh viện sản xuất. Kết quả này phù hợp với MHBT tại bệnh viện năm 2019 và đặc thù của bệnh viện YHCT là ưu tiên sử dụng thuốc do bệnh viện sản xuất.

Bên cạnh đó, thuốc hạng A còn các nhóm thuốc khác chiếm tỷ lệ khá cáo như nhóm thuốc Tim mạch chiếm 17,03% GTSD, nhóm Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết chiếm tới 13,77% GTSD; nhóm Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm 9,96%. Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018 [18], Bệnh viện YHCT – Phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 [16], Bệnh viện YHCT Vĩnh Phúc năm 2017 cũng cho kết quả tương tự [12].

Tuy nhiên, bệnh viện cần cân nhắc lưu ý do trong các thuốc hạng A có 01 thuốc là vitamin và một số thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu mua ngoài.

Đây là các thuốc bổ trợ nên cần kiểm soát sử dụng.

4.2.2. Về phân tích VEN.

Kết quả phân tích ABC chỉ ra các thuốc, nhóm thuốc sử dụng nhiều còn phân tích VEN chỉ ra cơ cấu chi phí hữu ích hoặc chưa hữu ích của bệnh viện trong sử dụng thuốc. Từ kết quả phân tích VEN cho thấy, các thuốc thiết yếu (nhóm E) có SKM và GTSD lớn nhất lần lượt là 292 KM chiếm 51,41% và 56,95%. Nhóm thuốc tối cần (nhóm V) với 36,57% GTSD và đứng thứ hai về

SKM với tỷ lệ 34,68%. Nhóm thuốc N là thuốc không thiết yếu trong điều trị, với 79 khoản mục chiếm 13,91% và 6,48% GTSD.

Một số nghiên cứu cho kết quả tương tự như tại Bệnh viện YHCT Vĩnh Phúc năm 2017, thuốc nhóm E chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,4% về GTSD và 64,8% về SKM, thuốc nhóm V chiếm 39,4% về GTSD và 26,7% về SKM, thuốc nhóm N chiếm 2,3% về GTSD và 8,5% về SKM [12]. Năm 2018 tại Bệnh viện YHCT TW, thuốc nhóm E chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,28% về GTSD và 77,31% về SKM, thuốc nhóm V chiếm 27,06% về GTSD và 18,66% về SKM, thuốc nhóm N chiếm 2,66% về GTSD và 4,03% về SKM [18]. Còn nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT – Phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 thì thuốc nhóm V lại là nhóm có giá trị sử dụng và số khoản mục thấp nhất do đặc thù là YHCT nên sử dụng ít thuốc cấp cứu, các kháng sinh đường tiêm truyền [16]. Tùy thuộc vào MHBT và đặc thù của từng bệnh viện mà các thuốc trong DMT được phân chia vào các nhóm V, E, N khác nhau.

Tại Bệnh viện YHCT - BCA trong DMT các thuốc nhóm V không chỉ đơn thuần là các thuốc cấp cứu, thuốc đường tiêm truyền mà còn có các thuốc cần thiết để duy trì công tác khám chữa bệnh như các thuốc do bệnh viện sản xuất, thuốc điều trị các bệnh chuyên khoa theo từng khoa phòng, thuốc điều trị bệnh mãn tính và đặc biệt là các thuốc phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ cấp cao trong ngành công an.

4.2.3. Về phân tích DMT theo ma trận ABC/VEN.

Qua phân tích ma trận ABC/VEN cho thấy bệnh viện đã ưu tiên sử dụng nhiều loại thuốc nhóm E và cũng phân bổ ngân sách lớn vào loại thuốc này ở cả 3 hạng A-B-C.

Phân nhóm AE có GTSD cao nhất chiếm 46,92% chỉ với 31 khoản mục chiếm 5,46% SKM.

Phân nhóm AV có GTSD cao thứ 2 với 29,38%, với 28 khoản mục chiếm 4,93%.

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018, Bệnh viện YHCT Vĩnh Phúc năm 2017 cũng cho kết quả tương tự: phân nhóm AE có GTSD cao nhất lần lượt là 55,08% và 43,5%; đứng thứ hai về GTSD là phân nhóm AV với tỷ lệ là 23,92% và 34,8% [18], [12].

Phân nhóm CV là phân nhóm quan trọng, cần thiết cho điều trị đứng thứ 2 về SKM (133 khoản mục) chiếm 23,42% nhưng chi phí sử dụng chỉ có 1,97%.

Đặc biệt phân nhóm không cần thiết AN chỉ với 5 khoản mục chiếm 0,88% nhưng đứng thứ 5 về GTSD (1.272.846.516 đồng) chiếm 3,52%. Các thuốc này đều là các thuốc hỗ trợ bổ sung vitamin, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu mua ngoài. Để tránh lãng phí không cần thiết, bệnh viện nên kiểm soát sử dụng và có thể loại bỏ một số ra khỏi danh mục và thay vào đó tăng cường sản xuất các thuốc tương tự. So với một số bệnh viện YHCT khác, kết quả thu được từ bệnh viện cao hơn đáng kể. Trong năm 2018, tại Bệnh viện YHCT TW có 2 khoản mục thuốc trong phân nhóm AN có giá trị 359.960.000 đồng [18].

Tại Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 chỉ có 1 khoản mục thuốc ở phân nhóm AN với GTSD là 40.500.000 đồng [12]. Tại Bệnh viện YHCT – Phục hồi chức năng Bình Thuận năm 2018 có 14 khoản mục thuốc thuộc phân nhóm AN có GTSD là 1.228.252.840 đồng [16].

Do đặc thù là bệnh viện YHCT nên một số thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu cần thiết cho công tác khám chữa bệnh và bệnh viện chưa tự sản xuất được nên xếp vào nhóm E, cụ thể: Thiên sứ hộ tâm đan, Hoa đà tái tạo hoàn và Dưỡng huyết thanh não. Điều này lý giải cho việc khi phân tích các thuốc hạng A theo tác dụng dược lý có 7 thuốc là thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu nhưng khi xếp vào phân nhóm AN chỉ có 04 thuốc.

Bên cạnh phân nhóm AN cần được xem xét thì phân nhóm BN cũng cần được kiểm soát do không cần thiết nhưng cũng chiếm tỷ lệ ngân sách tương đối

chiếm 2,45%. Trong phân nhóm gồm 9 thuốc là thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu mua ngoài trong đó có 3 thuốc (Dilagin, Kim tiền thảo-f, Kim tiền thảo) đã có thuốc tương tự do bệnh viện sản xuất và 8 thuốc hóa dược chủ yếu là các thuốc có giới hạn chỉ định, thuốc liên quan đến bệnh xương khớp, thần kinh (Statripsine, Methycobal, Rocaltrol, Viatril-S 1500mg). Vì vậy, để sử dụng nguồn kinh phí thuốc hợp lý bệnh viện cần kiểm soát sử dụng các thuốc ở phân nhóm BN và hạn chế dùng các thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu mua ngoài khi bệnh viện đã tự sản xuất được.

Hạn chế của đề tài:

Do hạn chế về thời gian nên đề tài chưa đi sâu phân tích các vấn đề liên quan khác như kinh phí sử dụng thuốc so với tổng kinh phí của bệnh viện hay tỷ lệ thuốc đã sử dụng, thuốc ít sử dụng, thuốc không sử dụng so với kết quả trúng thầu, phân tích ABC đối với vị thuốc cổ truyền….

Một phần của tài liệu Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2019 (Trang 82 - 87)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(99 trang)