CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG
2.2 Thực trạng giáo dục- đào tạo của trường Cao đẳng nghề kinh tế- kỹ thuật Vinatex
2.2.1 .Tình hình sinh viên, học sinh.
Với trang thiết bị và đội ngũ giáo viên vững vàng về kiến thức và kỹ năng, Nhà trường đã phát triển nhiều loại hình đào tạo như hệ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp, do đó thu hút được nhiều sinh viên, học sinh. Quy mô đào tạo của nhà trường ngày một tăng theo nhu cầu của xã hội
Năm học 2006 – 2007 số học sinh sinh viên của các hệ là 1.765 sinh viên nhưng sang năm học 2007 – 2008 số học sinh, sinh viên là 2.630 tăng lên gần 50% so với năm học trước và đến năm học 2008 – 2009 là 3.425 sinh viên tăng thêm 30% so với năm học trước.
Tuy nhiên một thực tế là sinh viên của nhà trường phần lớn ở lứa tuổi 18 do đó họ có những đặc điểm chung của lứa tuổi thanh niên mới lớn, đa phần ý thức học tập là chưa cao, cuộc sống tự lập còn hạn chế. Do vậy, khi rời gia đình để đi học, các em rất cần đến sự quan tâm của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Các ảnh hưởng tiêu cực cũng tác động mạnh đến lứa tuổi này. Việc tổ chức quản lý giáo dục học sinh là rất cần thiết giúp các em có thái độ đúng đắn trong quá trình học tập và rèn luyện.
Mặt khác, việc xét tuyển hoặc thi đầu vào đối với hệ trung học chuyên nghiệp nhiều khi chỉ là hình thức do yêu cầu là phải tuyển đủ số lượng.
Hơn nữa, trình độ học vấn của học sinh khi vào học cũng có sự chênh lệch do đó chất lượng đầu vào là không cao.
Do sự phát triển của các trường về số lượng học sinh, qui mô đào tạo do đó việc bố trí thường là học lý thuyết sáu tiết trong một buổi. Số lượng học sinh thường rất đông, do vậy, việc quản lý học sinh trong từng lớp học là rất quan trọng. Nhiều lúc các em còn xem nhẹ việc học và thực hành trên lớp, nếu quản lý không tốt sẽ có hiện tượng đi muộn, về sớm trốn tiết, không tích cực trong học tập và rèn luyện.
Ý thức tự học tập của học sinh, sinh viên còn hạn chế. Họ chưa xác định đúng nhiệm vụ học tập. Về phía giáo viên chưa chú ý đến việc giao bài và kiểm tra khối lượng bài tập cho học sinh .
Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tốt nghiệp của sinh viên nhà trường.
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả tốt nghiệp năm học 2009- 2010
Nội dung Cao đẳng Trung cấp
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Tốt nghiệp 1353 98.8 240 100
Xuất sắc 0 0.0 0 0.0
Loại giỏi 66 4.8 9 4
Loại Khá 706 51.6 144 60
Loại TB Khá 523 38.2 61 25
Loại TB 58 4.2 26 11
Không tốt nghiệp 16 1.2 0 0.0
Tổng cộng 1369 100.0 240 100
(Nguồn : Phòng đào tạo)
Từ bảng thống kê trên ta thấy cả hệ trung cấp và hệ cao đẳng không có một sinh viên xuất sắc nào . Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi thấp mà chủ yếu là tốt nghiệp loại khá và TB khá (Khá : 51,8% TB khá : 36,2%) phản ánh đúng thực trạng sinh viên của trường chỉ ở mức khá và trung bình khá.
Đó là thực trạng chất lượng học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex.
2.2.2 Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên
Để đào tạo trình độ Cao đẳng, hướng tới phát triển trường lên thành Học viện đầu tiên của ngành dệt may, nhà trường đã chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên, Nhà trường đã cử nhiều cán bộ, giáo viên đi học nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ. Từ nhận thức giáo viên là nhân vật trung tâm, là nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo, giáo viên có vai trò to lớn và có chức năng truyền đạt tri thức, giáo dục nhân cách cho học sinh, nhà trường đã đẩy mạnh các hình thức sinh hoạt nghiệp vụ để góp ý, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy từ các tổ môn, các khoa, tổ chức dự giảng để kiểm tra đánh giá, phân loại giáo viên.
Bảng 2.2: Cơ cấu giáo viên độ tuổi
Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ(%)
- Dưới 35 tuổi 148 69,2
- Từ 35 – 60 tuổi 66 30,8
Tổng số 214 100
(Nguồn : Phòng Tổ chức cán bộ)
Qua bảng tổng hợp trên ta nhận thấy đội ngũ giáo viên trẻ chiếm hơn 70%. Lực lượng này có hạn chế về thâm niên giảng dạy, kinh nghiệm còn hạn chế nhưng do đều được đào tạo chính quy tại các trường đại học nên trình độ chuyên môn khá tốt. Có 80% số giáo viên dạy lý thuyết có chuyên môn tốt, có 20% có chuyên môn ở mức trung bình. Giáo viên thực hành có 65% là chuyên môn tốt, 35% là chuyên môn trung bình.
Trong những năm qua, nhà trường đã chi hàng trăm triệu đồng để bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên như nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giáo viên, tiếp tục hoàn thiện nghiệp vụ sư phạm nghề...
Qua khảo sát cho thấy 35% đánh giá là trung bình, 60% đánh giá là tốt và 5% đánh giá là rất tốt.
Nhà trường đã xác định được việc nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức, thông tin cho đội ngũ giáo viên là rất quan trọng, góp phần rất lớn để nâng cao chất lượng đào tạo của Trường. Trong những năm qua số lượng giáo viên được cử đi học không ngừng tăng lên, trong Trường đang có hai giáo viên đi làm nghiên cứu sinh, 65 giáo viên đang học và đã học xong chương trình thạc sỹ, còn lại là các thầy cô giáo mới vào đang sẽ được tiếp tục hoàn thiện ở bậc học cao hơn.
Tuy nhiên, đặc thù của các cơ sở đào tạo nghề mà chất lượng và trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên cũng khác nhau.
Những giáo viên có thâm niên và có nhiều kinh nghiệm giảng dạy phần lớn lại trưởng thành và phát triển lên từ giáo viên dạy TCCN, TCN, sau đó tiếp tục được đào tạo nâng lên cho đạt chuẩn dạy hệ Cao đẳng, nhiều giáo viên có thâm niên khi nhà trường phát triển, mở rộng quy mô lại chuyển sang làm công tác quản lý, nên cho đến nay đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy chưa được đồng đều về trình độ và cơ cấu.
Do đó, việc tương thích giữa các thế hệ là chưa đồng đều, các giáo viên có kinh nghiệm còn ít vì nghỉ hưu hoặc chuyển công tác. Các giáo viên có thâm niên để theo kịp và thích ứng nhanh với tốc độ và quy mô phát triển của nhà trường là một thách thức không nhỏ đối với họ, thói quen giảng dạy, tư duy theo lối truyền thống, chậm áp dụng phương pháp giảng dạy tiên tiến và không khai thác sử dụng trang thiết bị hiện đại.
Bảng 2.3: Cơ cấu giáo viên theo trình độ và độ tuổi
Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ(%)
Trình độ
- Sau đại học 73 34,2
- Đại học 115 53,7
- Cao đẳng, CN bậc
cao 26 12,1
Tuổi
- Dưới 35 tuổi 148 69,2
- Từ 35 – 60 tuổi 66 30,8
Tổng số 214 100
(Nguồn : Phòng Tổ chức cán bộ)
Nhìn chung so với qui định chuẩn của Bộ Giáo dục & Đào tạo, số lượng sinh viên trên một giáo viên tại trường tương đối cao, khoảng 40 học sinh, sinh viên trên một giáo viên, mà theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo là từ 25 đến 30 sinh viên/ một giáo viên. Do vậy khoa thường xuyên phải thuê giáo viên tại các trường khác và tuyển thêm giáo
viên mới (Số giáo viên trong biên chế: 191 người; Hợp đồng: 23 người;
Thỉnh giảng: 50).
Đội ngũ giáo viên của trường mặc dù rất tận tụy, tâm huyết với nghề, có ý thức vươn lên, nhìn toàn diện, có thể đánh giá họ tương đối vững vàng, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mà công việc đòi hỏi, nhưng bên cạnh đó có một số ít giáo viên phương pháp giảng dạy của họ còn lạc hậu. Đặc biệt giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng các phương pháp dạy học mới hiện đại, sử dụng quá nhiều các phương pháp cũ. Họ chỉ biết đào tạo rập theo khuôn mẫu, dạy cho sinh viên một cách thụ động máy móc.
Chúng ta biết, dạy không chỉ cung cấp kiến thức, kỹ năng thuần túy mà người dạy còn cần đi sâu khai thác các phương pháp, tiếp cận các tri thức, kỹ năng bằng sức mạnh tổng hợp của các cơ chế : đời sống sinh hoạt với tri thức, đạo đức với tri thức. Mục đích giúp cho lớp lớp các thế hệ được đào tạo thích ứng với sự đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội . Sao cho bản thân người được đào tạo có thể di chuyển thích ứng với sự biến đổi nghề nghiệp trong đời sống xã hội.
Muốn làm được điều đó thì trình độ của giáo viên là rất quan trọng. Vì vậy việc nâng cao chất chất lượng đội ngũ giáo viên thông qua các hình thức đào tạo mới, đào tạo lại và bổ sung kiến thức chuyên môn, phương pháp sư phạm là yêu cầu hàng đầu lúc này.
2.2.2 Về chất lượng đào tạo.
Nội dung đào tạo, chương trình đào tạo.
Nhà trường đào tạo các ngành nghề là: công nghệ may, điện, cơ khí, công nghệ thông tin, dệt- sợi- nhuộm, kế toán. Vì vậy, trong những năm qua, phòng đào tạo cùng phối hợp với các phòng ban khác tiếp tục thực
hiện 3 chương trình đào tạo Cao đẳng nghề, Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề : rà soát lại mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo của từng hệ. Mục tiêu đào tạo phải theo sát nhu cầu thực tiễn của xã hội, phù hợp với tiến bộ của khoa học và công nghệ, đảm bảo tính cân đối về nội dung chương trình trong việc liên thông đào tạo lên bậc học cao hơn, tạo điều kiện cho người học khi ra trường có thể đáp ứng được ngay yêu cầu của quy trình sản xuất hiện đại, đồng thời triển khai biên soạn giáo trình phục vụ cho công tác tổ chức đào tạo ngành mới. Đến nay, toàn trường đã thống nhất chương trình khung, chương trình chi tiết cho các ngành nghề.
Bảng 2.4: Kết quả xây dựng chương trình qua các năm
STT Năm Chương trình đào tạo Thời
gian
1 2007 Hoàn thiện chương trình khung đào
tạo hệ CĐN kế toán doanh nghiệp 3 năm 2 2007 Hoàn thiện chương trình khung đào
tạo hệ TCCN kế toán doanh nghiệp 2 năm 3 2007 Hoàn thiện chương trình khung đào
tạo hệ TCN kế toán doanh nghiệp
1,5 năm 4 2007 Hoàn thiện chương trình khung đào
tạo hệ CĐN quản trị kinh doanh 3 năm 5 2008 Hoàn thiện chương trình khung đào
tạo hệ CĐN tài chính ngân hàng 3 năm
Để thực hiện chương trình đào tạo cả khoá học với tất cả các hệ đào tạo phòng Đào tạo nhà trường phối hợp cùng với các khoa xây dựng kế
hoạch đào tạo theo từng kỳ và cả năm học. Đồng thời phân công giáo viên giảng dạy phù hợp với trình độ chuyên môn, đảm bảo tính hợp lý về tỷ lệ giữa giáo viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm giỏi với giáo viên trẻ mới vào nghề cho từng lớp học, từng hệ đào tạo.
Tuy nhiên, nội dung đào tạo, chương trình đào tạo của nhà trường vẫn còn một số hạn chế như một số môn học vẫn chưa cân đối về thời lượng học lý thuyết và thời gian đi thực tế tại các doanh nghiệp,.
Trong nội dung đào tạo chưa chú trọng đến việc đào tạo toàn diện cho sinh viên, chưa bám sát yêu cầu của xã hội, vì thế dẫn đến tình trạng sinh viên khi ra trường chưa tìm được việc làm phù hợp.
Phương pháp đào tạo
Phương pháp giáo dục đúng đắn sẽ giúp nhà trường có kết quả đào tạo tốt. Trong những năm qua cùng với giáo dục cả nước thì nhà trường đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với xu thế hiện nay, góp phần đẩy lùi hiện tượng thầy đọc, trò chép, dạy chay, học chay. Tuy nhiên cho đến nay, nhà trường vẫn sử dụng phương pháp truyền thống đó là lấy hoạt động của giáo viên là trung tâm, chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh sinh viên. Sự phát triển của xã hội đòi hỏi nhà trường phải chuyển kiểu dạy tập trung vai trò của giáo viên và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò của sinh viên, học sinh và hoạt động dạy học để từ đó mang lại hứng thú cho người học đồng thời nâng cao chất lượng cao trong quá trình đào tạo.
Khi phỏng vấn các học sinh, sinh viên về phương pháp mà giáo viên đang sử dụng thì có kết quả như sau :
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp ý kiến của sinh viên về phương pháp mà giáo viên đang sử dụng
Ý kiến của sinh viên về phương pháp giảng dạy của giáo viên
Số trả lời Phần trăm
%
Giáo viên đọc, sinh viên ghi 160 53,33
Giáo viên giảng, đọc, sinh viên ghi 70 23,33
Giáo viên giảng, sinh viên tự ghi 20 6,67
Giáo viên nêu vấn đề, sinh viên thảo luận 10 3,33 Giáo viên cung cấp tư liệu cho sinh viên nghiên
cứu
5 1,67
Phương pháp khác 15 5
Kết hợp các phương pháp 20 6,67
Tổng 300 100%
Qua bảng số liệu trên cho thấy, giáo viên của trường Cao đẳng nghề kinh tế kỹ thuật Vinatex sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình giảng dạy nhưng đúng như trên đã trình bày, phương pháp được sử dụng khá phổ biến là phương pháp đọc chép. Đây là phương pháp làm cho sinh viên tiếp thu kiến thức một cách thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên làm cho không khí lớp học nhàm chán. Phương pháp giáo viên cung cấp tài liệu cho sinh viên tự nghiên cứu rất khó khăn bởi vì trình độ của sinh viên chưa thể đạt đến khả năng đó. Hơn nữa, một thực tế là, ý thức tự học, tự nghiên cứu của sinh viên chưa cao. Phương tiện để tự học vẫn chủ yếu là giáo
trình. Các phương tiện khác như sách tham khảo , báo chí, phim ảnh, Internet.. được sử dụng rất ít. Đa số sinh viên không xem bài trước ở nhà, bởi vậy khi lên lớp họ dựa hoàn toàn vào giáo viên. Hầu hết sinh viên không phát biểu xây dựng bài nếu có thì do sự chỉ định của giáo viên. Vì thế việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực là vô cùng khó khăn.
Kết quả đào tạo.
Kết quả đào tạo của nhà trường trong những năm qua mới chỉ đạt ở mức khá và trung bình khá. Qua bảng tổng hợp kết quả đào tạo của nhà trường ở phần trên ta đã thấy rõ điều này.
Tuy nhiên, chất lượng đào tạo không chỉ được đánh giá bằng điểm số và kết quả học tập của các môn học mà còn phụ thuộc và ý thức tổ chức kỷ luật của sinh viên. Việc đánh giá chính xác kết quả rèn luyện của sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng vì điều này còn ảnh hưởng đến ý thức của họ sau này khi tham gia vào quá trình lao động. Do vậy, công tác quản lý giáo dục học sinh, sinh viên mặc dù đã được nhà trường rất quan tâm, song vẫn là công việc hết sức khó khăn phức tạp. Nó thể hiện một số điểm sau:
Thứ nhất: số lượng học sinh đông lại đang trong quá trình hình thành về tính cách và tâm lý nên chưa ổn định.
Thứ hai: yêu cầu về mặt quản lý học sinh của nhà trường rất cụ thể, trong khi học sinh cư trú trên địa bàn rộng, không tập trung. Nhất là số học sinh ngoại trú quá đông và cách xa trường. Tình hình đó đã gây khó khăn rất nhiều cho việc theo dõi và quản lý học sinh.
Trước tình hình đó, năm học 2008 - 2009, nhà trường đã có sự đổi mới trong công tác giáo viên chủ nhiệm. Đó là phân công giáo viên chuyên trách cấp khoa làm công tác giáo viên chủ nhiệm. Hàng tháng, giáo viên chủ nhiệm bình xét hạnh kiểm cho sinh viên dựa trên số buổi đi học trên
lớp và điểm đạt được qua các kỳ kiểm tra, bài thi để đánh giá ý thức học tập của sinh viên. Sự đổi mới này rất phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay và đã thu được kết quả khả quan. Trong năm học qua, trong việc xử lý các vụ việc đều có mặt giáo viên chủ nhiệm. Việc quản lý, theo dõi học sinh cụ thể sát sao hơn. Vì vậy giải quyết các vụ vi phạm của học sinh kịp thời hơn. Phong trào học tập, rèn luyện và thi đua trong học sinh có sự chuyển biến và khởi sắc hơn. Song bên cạnh đó có một số khuyết điểm:
- Một số giáo viên quản lý cấp khoa làm việc chưa có khoa học, thậm chí chưa biết việc để làm, thái độ làm việc còn hời hợt, một số giáo viên chủ nhiệm tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ, vì vậy có lúc chưa quản lý chặt chẽ được học sinh sinh viên của mình.
- Đến nay, một số công việc cụ thể chưa hoàn thành như chưa ghi chép hạnh kiểm hàng tháng, học kỳ, ghi chấm công của học sinh vào sổ lên lớp hằng ngày cũng như điểm tổng kết và ghi sổ học tập.
Công tác biên soạn chương trình giáo trình
Giáo trình là tài liệu môn học. Thông qua bài giảng kết hợp với giáo trình môn học sẽ giúp cho học sinh có thể tiếp thu bài giảng được tốt hơn.
Ngoài giáo trình chuẩn của Bộ giáo dục, Bộ lao động thương binh và xã hội, hiện nay các trường đều khuyến khích giáo viên tham gia giảng dạy viết giáo trình lưu hành nội bộ. Có thể nói giáo trình lưu hành nội bộ là tài liệu chuẩn mực vì nó là kết quả thực tiễn được kết tinh qua nhiều năm.
Trong những năm qua Trường đã chỉ đạo biên soạn chương trình và đề cương bài giảng đáp ứng kịp thời cho việc giảng dạy và được đánh giá cụ thể như sau: 50% tốt, 45% trung bình và 5% kém.
Quan điểm chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường là thực hiện đúng chương trình đào tạo đã được Tổng cục dạy nghề phê duyệt nhưng hàng