CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG
2.3 Những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của trường Cao đẳng nghề kinh tế kỹ thuật Vinatex
2.3.1Mâu thuẫn giữa yêu cầu về mặt số lượng và chất lượng của công tác đào tạo.
Đây không chỉ là vấn đề đặt ra cho riêng trường Cao đẳng Nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex mà là của tất cả các trường dạy nghề hiện nay. Bởi vì như chúng ta biết do sự nhận thức của con người ngày càng cao cùng với đời sống kinh tế ngày càng phát triển vì thế nhu cầu đi học ở các trường cao đẳng, đại học trở nên phổ biến. Để đáp ứng nhu cầu đó, trong những năm gần đây, số lượng các trường cao đẳng, đại học được thành lập với số lượng lớn.Trong các trường này, nhiều hệ từ hệ đại học cho đến
trung cấp chuyên nghiệp thậm chí cả hệ trung cấp nghề cũng được mở. Vì vậy người học có rất nhiều sự lựa chọn theo nhu cầu của mình.
Trước tình hình này, đối với các trường Nghề, việc tuyển sinh trở nên vô cùng khó khăn. Hơn nữa, do tâm lý của người học hầu hết là không thích học ở những trường nghề và riêng đối với học sinh của địa bàn các tỉnh thì việc lựa chọn đi học ở các trường trên địa bàn của tỉnh rất ít vì phần lớn là muốn đi học ở Hà Nội dù bất kể là trường gì. Như vậy, số lượng sinh viên vào trường Cao đẳng nghề ở các địa phương trong những năm gần đây không thể đạt đến chỉ tiêu đặt ra và ngày càng ít đi. Đây là một khó khăn mà các trường đang phải đối mặt.
Thực tế, nhu cầu lao động của xã hội lúc này đang rơi vào tình tình trạng thừa thầy thiếu thợ, và các thợ giỏi thì rất ít. Nhưng các trường Nghề hiện nay do chưa ý thức được một cách rõ ràng vấn đề này nên hầu như không chú ý để đầu tư xây dựng. Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được cho quá trình dạy học. Đây cũng là lý do khiến cho các trường Nghề tuyển sinh rất hạn chế.
Nhận thức được vấn đề như trên, Ban giám hiệu cùng các phòng ban chức năng của nhà trường đã có nhiều kế hoạch nhằm thu hút sinh viên để vào trường như việc mở thêm hệ vừa học vừa làm, mở hệ trung cấp nghề đối với học sinh tốt nghiệp hệ trung học cơ sở ra trường được cấp bằng nghề và bằng bổ túc văn hóa. Chính vì thế mà số lượng sinh viên tăng lên và giải quyết được bài toán khó mà nhà trường gặp phải trong suốt quá trình hoạt động.
Tuy nhiên để giải quyết được vấn đề số lượng thì vấn đề chất lượng lại không thể đáp ứng được yêu cầu. Đầu vào được mở rộng hơn lúc nào hết, chỉ cần tốt nghiệp Trung học phổ thông là được tuyển vào học hệ Cao
đẳng nghề, không cần qua thi tuyển. Vì vậy chúng ta có thể dễ dàng thấy là chất lượng không thể tốt vì tập trung nhiều là những đối tượng của hệ mới chỉ tốt nghiệp Trung học cơ sở, còn lại các hệ khác thì trường chỉ là sự lựa chọn cuối cùng của học sinh khi không còn trường nào khác. Đây là một vấn đề khó có thể giải quyết trong một sớm một chiều.
Bảng 2.6 :Bảng số liệu tuyển sinh của nhà trường Năm 2008-
2009
Năm 2009- 2010
Năm 2010- 2011
Cao đẳng nghề 2050 2350 2000
Trung cấp nghề
580 875 500
Trung cấp chuyên nghiệp
52 200 200
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy việc tuyển sinh ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn do sự cạnh tranh của các trường không chỉ ở địa bàn Nam Định mà trong cả nước. Vì vậy, hơn lúc nào hết, nhà trường cần có kế hoạch để việc thỏa mãn cả vấn đề số lượng đồng thời cả về chất lượng để nâng cao việc giáo dục- đào tạo cho nhà trường.
2.3.2 Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện với trình độ của đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường.
Chức năng của nhà trường không chỉ đào tạo ra những người lao động có tay nghề mà còn đào tạo ra những con người toàn diện đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Để làm như vậy, sự nghiệp giáo dục phải phát triển mạnh và nhà trường phải có một chương trình giáo dục
toàn diện cho sinh viên. Như Hồ Chí Minh đã khẳng định, giáo dục toàn diện đó là kết hợp chặt chẽ văn hóa, khoa học kỹ thuật với chính trị, nền giáo dục toàn diện bao gồm giáo dục đức, trí, mỹ, kỹ thuật tổng hợp. Đây chính là nội dung giáo dục hết sức căn bản để làm nền tảng cho con người phát triển toàn diện.
Muốn làm được điều đó, một trong những yếu tố căn bản là đội ngũ giáo viên, vì thế đòi hỏi trình độ chuyên của người giáo viên phải đạt chuẩn, phải hiểu biết sâu rộng. Họ phải luôn luôn cập nhật những kiến thức mới để bổ sung những gì mình thiếu, quá trình tự nghiên cứu càng trở nên cần thiết đối với bất kỳ giáo viên nào. Có như vậy nhà trường mới có thể nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của mình và tạo ra được những người lao động đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Với đặc thù là một trường dạy nghề, hơn nữa lại là trường có những ngành nghề truyền thống là Dệt- May thì việc đào tạo những lao động có chất lượng để có thể đáp ứng cho tỉnh Nam Định nói riêng và ngành Dệt may nói chung là trách nhiệm nặng nề đặt lên vai những người đào tạo .
Nhìn chung số lượng giáo viên tuy đông và tương đối đồng đều về trình độ nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất hạn chế để có thể đáp ứng được yêu cầu hiện nay của việc giáo dục toàn diện cho sinh viên. Các giáo vên dù hầu hết được đào tạo bài bản trong các trường Đại học, Cao đẳng và hàng năm được đi tập huấn để nâng cao nghiệp vụ, nhưng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học và tri thức của nhân loại, nhiều người vẫn chưa thể hoàn thành được công việc, chưa xứng đáng với cương vị được giao. Cũng có những trường hợp giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm trước công việc và còn mang nặng tính bình quân chủ nghĩa.
Họ không có nhu cầu phấn đấu, cố gắng trong công việc. Công việc tự học, tự bồi dưỡng đối với một số giáo viên có tuổi chưa thường xuyên vì
họ ngại học, ngại cập nhật những kiến thức mới, các phương tiện dạy học mới. Đây chính là phần trở ngại đối với việc phát triển của nhà trường trong thời kỳ mới.
Với đặc thù của nhà trường là xuất thân từ trường công nhân nhà máy dệt nên hầu như giáo viên của hai ngành Dệt và May đều là từ công nhân chuyển lên. Vì thế, họ không được đào tạo cơ bản. Bên cạnh đó, kỹ năng sư phạm cũng chưa có nhiều, còn rất hạn chế. Đây cũng là bất lợi cho việc đào tạo của nhà trường trong thời gian tới bởi như chúng ta biết các công nghệ kỹ thuật đang biến đổi từng ngày từng giờ nếu không nhanh nhạy nắm bắt cũng như học hỏi thêm thì rất dễ bị tụt hậu. Người học sẽ không được học hỏi những kỹ thuật mới từ đó nguồn lao động do nhà trường đào tạo ra sẽ bị không được xã hội chấp nhận. Đây cũng chính là điều mà nhà trường trăn trở rất nhiều.
Là một trong những cơ sở đào tạo thuôc tập đoàn Dệt may Việt Nam thì yêu cầu về việc cập nhật kỹ thuật mới hiện đại là vô cùng cần thiết vì nếu không thì lao động của chúng ta sẽ không thể tạo ra các sản phẩm có đủ sức cạnh tranh với các nước trên thế giới, ngành Dệt may sẽ không thể trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn của nước ta.
2.3.3 Mâu thuẫn giữa yêu cầu rèn luyện tay nghề cho sinh viên với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
Nhà trường đào tạo sinh viên theo nguyên tắc cơ bản như bác Hồ đã chỉ ra là học phải đi đôi với hành, học tập gắn liền với lao động sản xuất, hay nguyên tắc lý luận gắn với thực tiễn. Sau khi học xong, học sinh, sinh viên được bố trí đến các xưởng thực hành để thực hành những nội dung mình đã được học để rèn luyện tay nghề cũng như tập làm việc trong môi trường lao động sau này.
Với chức năng của một trường dạy nghề, đặc biệt là đào tạo những người lao động thuộc những ngành nghề là thế mạnh của tỉnh Nam Định cũng như của cả nước, cơ sở vật chất là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu của nhà trường.
Với 30 phòng học lý thuyết thì nhà trường vẫn còn thiếu. Cơ sở học tập vì thế có một số lớp phải học buổi tối. Tại các phòng hoc lý thuyết, tuy đã cố gắng đáp ứng được theo yêu cầu của Bộ giáo dục nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu một số các trang thiết bị như đèn, quạt và chưa được trang bị máy chiếu.
Xưởng thực hành các ngành của nhà trường bao gồm: ngành công nghệ may 10 xưởng, điện công nghiệp 5 xưởng, dệt sợi 2 xưởng, cơ khí 3 xưởng và công nghệ thông tin 10 phòng máy.
Như vậy mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường rất được quan tâm nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu đào tạo. Qua các số liệu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng có sự chênh lệch về số lượng xưởng thực hành giữa các ngành nghề được đào tạo. Nhìn chung, ngành may và ngành dệt, máy móc đã đáp ứng được yêu cầu thực hành của sinh viên nhưng ngành điện và hàn thì dường như là vẫn thiếu nghiêm trọng. Nguyên nhân của tình trạng trên là do đặc điểm xuất phát của nhà trường là từ trường công nhân kỹ thuật Dệt may nên cơ sở vật chất được đầu tư từ nhiều năm trước và dần dần được bổ sung như hiện nay, còn những ngành nghề còn lại thì mới được mở trong những năm gần đây nên việc xây dựng các xưởng thực hành còn nhiều hạn chế và thiếu hụt. Chính vì thế, việc rèn luyện tay nghề cho sinh viên là một trong những vấn đề đặt ra cho nhà trường hiện nay.
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang tác động mạnh mẽ nhất trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vì thế người học cũng phải được trang bị những kiến thức cơ bản nhất về công nghệ thông tin và thậm chí là phải nắm bắt được những cái mới để khi ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc. Nhưng muốn thực hiện được việc này thì ngoài trình độ của người dạy cần một kinh phí rất lớn để đầu tư các công nghệ hiện đại cho cả người dạy lẫn người học. Kinh phí hàng năm được tập đoàn Dệt may cấp cho nhà trường cùng với nguồn kinh phí của nhà trường cũng được trích ra để đầu tư trang thiết bị chiếm một tỷ lệ rất lớn nhưng thực tế vẫn còn tình trạng sinh viên của khoa công nghệ thông tin sử dụng chung máy tính trong giờ thực hành. Đây là một trong những trở ngại đối với kết quả đào tạo của nhà trường. Như chúng ta biết, sinh viên luôn luôn phải làm việc trên máy tính, phải luôn học tập những phần mền mới nhất hiện đại nhất mà không có điều kiện để đáp ứng nhu cầu đó thì sẽ làm giảm hứng thú của người học. Không những thế, khu làm việc của giáo viên cũng còn thiếu những phương tiện như máy tính, máy chiếu đa năng, băng hình.... Mỗi khoa chỉ có một máy chiếu. Vì thế khi sử dụng giáo viên phải đăng ký chờ xếp lịch và có khi không được sử dụng. Chính vì thiếu như vậy nên dần dần giáo viên ngại sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại và lại quay về với phương pháp truyền thống là phấn và bảng. Điều đó cũng làm giảm chấtlượng giáo dục - đào tạo của nhà trường.
Một trong những yếu tố cơ bản trong hệ thống cơ sở vật chất của nhà trường đó là thư viện. Hiện nay số lượng đầu sách phục vụ cho bạn đọc còn rất ít. Thư viện chưa có đầy đủ các phòng như: phòng đọc cho học sinh, phòng đọc cho giáo viên, phòng diễn giảng, phòng đa năng với máy tính kết nối mạng Ingternet, đầu đĩa CD, đài nghe băng, kho sách, thư viện
điện tử và khối phụ trợ.Một bất lợi cho thư viện của trường là được đặt ngay cạnh nhà giáo dục thể chất vì thế luôn luôn ồn ào không đảm bảo sự yên tĩnh cho người đọc từ đó dẫn đến hệ quả tất yếu là thư viện luôn luôn trống người đến đọc sách và tìm tài liệu.
Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giáo dục của nhà trường.