XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”

Một phần của tài liệu Đổi mới nội dung giảng dạy một số chuyên đề lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện của cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình ở nước ta hiện nay (Trang 56 - 73)

Dang Thi Linh Trong quá trình giảng bài “Xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa” giảng viên thường trình bày những nội dung cơ bản sau:

Vì sao phải xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa

Những đặc điểm chủ yếu của nền văn hoá xã hội chủ nghĩa

Con đường và biện pháp để xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Để thực hiện nhiệm vụ chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực văn hoá, nhiệm vụ của bài giảng là phải trình bày đúng đăn, đầy đủ những quan niệm chính diện trên lĩnh vực này để sinh viên thấy rõ xây dựng nên văn hoá xã hội chủ nghĩa là quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, nên văn hoá xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ của giai cấp công nhân là phải xây dựng nền văn hoá có nội dung tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Song trong quá trình giảng bài giảng viên phải làm cho sinh viên thấy rõ: chủ nghĩa đế quốc đã thấy rõ tâm quan trọng của văn hoá vì vậy chúng coi chống phá văn hoá xã hội chủ nghĩa là mục tiêu trong chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy muốn xây dựng thành công nền văn hoá xã hội chủ nghĩa phải chống

“diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực này.

Theo kết cấu bài giảng, có thể trình bày vấn đề chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hóa bằng những nội dung cơ bản sau:

1. Nếu giai cấp công nhân và nhân dân lao động coi nhiệm vụ xây dựng nền “Văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa đế quốc lại thực hiện chủ trương “điễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hoá nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu của “điễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hoá của chủ nghĩa

đế quốc nhằm: “Xoá dân truyền thống văn hoá dân tộc, truyền thống cách mạng và các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa, khuyến khích lối sống tư bản chủ nghĩa, để cao chủ nghĩa cá nhân, chạy theo những dục vọng thấp hèn bạo lực, vô trách nhiệm, vô lương tâm, tôn thờ đồng tiền”.

Để thực hiện mục tiêu này chủ nghĩa đế quốc đã dùng các biện pháp sau:

- Một là: Dùng các phương tiện nghe, nhìn để truyền bá các quan điểm “tự đo dân chủ” “nhân quyên” lối sống tư sản vào các tầng lớp xã hội đặc biệt là thanh niên, sinh viên. Với quan niệm 1 đôla chi cho tuyên truyền tương đương với 5 đôla chỉ cho quốc phòng, chủ nghĩa đế quốc đã dùng mọi thủ đoạn để thực hiện ý đồ chống chủ nghĩa xã hội trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng.

- Hai là: Chúng thực hiện việc đi tham quan hội thảo, du lịch để mua chuộc, cài cắm người của chúng vào các nước xã hội chủ nghĩa để phá hoại trước mắt và lâu dài. Chúng sử dụng những sáng tác văn học 'xấu để xuyên tạc, vu khống, ném đá vào lịch sử, phủ nhận những thành

tựu của văn nghệ cách mạng.

Với những biện pháp này chủ nghĩa đế quốc đã “gặt hái” được những “thắng lợi” không nhỏ. Sự thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô đều có vai trò chl “điễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hoá.

2. Ở Việt Nam những năm qua chủ nghĩa đế quốc đương đầu là đế quốc Mỹ đã dùng nhiều biện pháp gây bạo loạn, lật đổ chính quyền giai cấp công nhân. Để thực hiện ý đồ đen tối này trên lĩnh vực văn hoá chủ nghĩa đế quốc đã dùng những biện pháp sau:

- Một là: tuyên truyền cho văn hoá lối sống ta sản. Những ấn phẩm đổi truy của văn hoá ta sản như: sách đen, phim nhựa đen, video đã “ào ạt tràn váo nước ta như một cuộc xâm lăng về văn hoá”””. Tình

nhân dân. Tình trạng bội thực về phim bạo lực, phim tình dục Mỹ, Hồng Kông, Đài Loan... đã tạo nên di chứng đáng kể trong thị hiếu người xem và trong đạo đức xã hội.

- Hai là: chúng tìm cách móc nối mua chuộc, dụ đỗ, tâng bốc một số văn nghệ sĩ hãng hụt về lý tưởng chính trị, có tư tưởng kiêu ngạo tự cho mình là có “tài năng” và “đũng khí” để “phanh phưi” những mặt trái của xã hội kể cả những sai lầm của quá khứ, gieo rắc sự hoài nghi đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, họ đề cao dục vọng thấp hèn, họ choáng ngợp trước lối sống phương Tây, họ mơ ước tên tuổi mình được vang lên ở các phòng họp, trên các phương tiện thông tin đại chúng ở hải ngoại... Tư tưởng này của một số nhà văn lại được một số nhà phê bình có tư tưởng “cấp tiến” tự xưng là đội ngũ “tiên phong” dương cao ngọn cờ đổi mới nhưng thực chất họ cũng đã trở thành nô lệ cho kẻ ngoại bang. Thế là như nắng hạn gặp mưa rào cánh đồng văn hoá của dân tộc không được trổ bông mà lại thêm nhiều cỏ dại. Hàng loạt các tác phẩm độc hại ra đời thể hiện rõ sự sa sút về đạo đức, thiếu trách nhiệm công dân của nhà văn, thậm trí đi ngược lại với lợi ích dân tộc, lập trường dân tộc của người nghệ sĩ. Họ đã trở thành kẻ thực hiện ý đồ “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hoá của chủ nghĩa đế quốc đối với dân tộc, trở thành con ở cho ngoại bang. Nội dung “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hoá ở nước ta trong thời gian qua thể hiện ở những nội dung sau:

- Nhân danh “đổi mới” văn học để phủ nhận thành quả cách

mạng, phủ nhận con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, xúc phạm lãnh tụ cách mạng, anh hùng dân tộc. Xuyên tạc bản chất cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Xem nó là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, xoá nhoà ranh giới giữa kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, xúc phạm hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân anh hùng, dũng cảm hy sinh, chiến đấu trong chiến tranh là những kẻ say máu, cuồng tín. Tệ hại hơn họ còn bào chữa, bênh vực cho kẻ xâm lược.

- Phủ nhận những thành tựu của văn nghệ cách mạng coi văn hoá cách mạng của ta là văn chương tuyên truyền “chỉ có giá trị tư liệu”

phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn học nghệ thuật trong kh đó lại đề cao một cách thái quá văn chương thời tiền chiến, văn chương

“hải ngoại” văn học nô dịch và phản động trong các đô thị miền Nam trước đây, xoá nhoà ranh giới giữa văn học cách mạng và phản cách mạng để “hợp lưu” một cách vô nguyên tác thành cái gọi là “văn học dân tộc hợp nhất”.

- Nhân danh chân thực để bóp méo hiện thực, uốn hiện thực theo

ý đồ chủ quan của nhà văn hoặc ý đồ của những kẻ ngoại bang. Nhân danh “chấp nhận vùng cấm” nhiều tác phẩm sa xuống thành những ghi chép tủn mủn thậm chí bệnh hoạn đầy tự nhiên chủ nghĩa, đầy những vết nhơ của xã hội của hồn người. Sự ra đời của hàng loạt tác phẩm đầy án mạng và tình dục, đó là thứ văn chương giả, những nọc độc có hại cho con người nhất là thế hệ trẻ.

- Nhân danh đổi mới để dương chiêu bài “hội nhập văn hoá” thời mở cửa để phủ nhận tính dân tộc của văn hoá, tuyệt đối hoá các thứ

chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại đã lỗi thời xem đó là con đường phát

triển tất yếu của văn hoá nước ta.

- Cũng nhân danh đổi mới có người còn chủ trương phải đẻ ra loại

“văn chương xám hối” phải “đa nguyên hoá văn học”. Con đường mà nên văn hoá Việt Nam đã và đang tiến bước là con đường quan minh chính đại, việc gì chúng ta phải “xám hối” và sự nghiệp đổi mới văn học nghệ thuật là “đa dạng hoá” chứ quyết không phải là đa nguyên.

Đó là con đường trước sau như một của dân tộc ta.

Chống diễn biến hoà bình trên nh vực văn hoá trong giai đoạn hiện nay phải chỉ ra được những âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trên lĩnh vực này, chỉ ra những lỗi lầm mà không ít văn nghệ sĩ mắc phải. Mặt khác phải tiếp tục phát huy truyền thống văn hoá yêu nước, cách mạng lên tầm cao mới nhân bản hơn, dân tộc hơn, hiện đại hơn để ngày càng có nhiều tác phẩm văn hoá hay hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn, thể hiện rõ “nội dung tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”.

VIỆC GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ “HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI? TRONG ĐIỀU KIEN CUOC ĐẤU TRANH

CHONG DIEN BIEN HOA BINH Ở NƯỚC TA HIEN NAY Nguyễn Thọ Khang

1. Đổi mới nôi đung chuyên đề: “Hệ thống chính trị xã hội chủ : Ẻ y : Ễ L : nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” là yêu cầu tất yếu của công cuộc đổi mới và cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình ở nước ta hiện nay.

Việc giảng dạy chuyên để “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” trong chương trình đào tạo cử nhân của tất cả các chuyên ngành thuộc hệ thống trường Đảng hoặc hệ thống của Bộ Giáo dục và đào tạo đã được triển khai ngay sau khi đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập đến thuật ngữ “Hệ thống chính trị ở nước ta”. Đây là một việc làm vừa đáng mừng, vừa chưa đáng mừng. Đáng mừng vì giới lý luận nói chung và đội ngũ giảng viên lý luận Mác-Lênin nói riêng đã kịp thời quán triệt, nắm bắt nội dung, tư tưởng của văn kiến “đổi mới” của Đảng và tích cực triển khai, để đưa quan điểm đường lối của Đảng về

“hệ thống chính trị...” vào cuộc sống. Nhưng đó cũng là điều chưa đáng mừng vì nó chứng tỏ tính bảo thủ, trì trệ, thụ động của đội ngũ cán bộ giảng dạy chỉ chờ đợi ở văn kiện các đại hội và nặng nề chứng minh, phân tích, giải thích các thuật ngữ trong văn kiện. Đáng lẽ ra thì thuật ngữ “Hệ thống chính trị...” phải được đưa vào các chương trình giảng dạy từ lâu vì trong xã hội hiện đại, khái niệm “Hệ thống chính trị...” đã trở thành khái niệm phổ biến trên thế giới. Nhiều người ngại đưa thuật ngữ mới vào giảng đạy khi mà văn kiện đại hội chưa sử dụng thuật ngữ đó.

Ở đây có sự trùng hợp ngẫu nhiên, vừa đưa khái niệm mới vào

vô sản” hoặc “hệ thống chuyên chính vo sản”, lúc đầu nhiều người cho rằng, cứ thay khái niệm “chuyên chính vo sản” bằng khái niệm “hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa” là đủ. Thực chất của vấn đề là: đổi mới nội dung chuyên đề “Hệ thống chính trị...” là yêu cầu tất yếu của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đúng như Đảng ta đã khẳng định, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là đổi mới những quan điểm, những hình thức, bước đi cho phù hợp với vận động của thực tiễn trong nước và trên thế giới. Sự đổi mới đó trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội tất yếu đòi hỏi đổi mới trên lĩnh vực chính trị tư tưởng và tạo điều kiện cho nó đổi mới thắng lợi.

Công cuộc đổi mới nói chung và đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nói riêng vừa xuất phát từ những đòi hỏi bên trong của đất nước, vừa xuất phát từ yêu cầu phải chống lại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực chống chủ nghĩa xã hội mà đứng đầu là đế quốc Mỹ. Nguy cơ “diễn biến hoà bình” nói chung và “điễn biến hoà bình trên lĩnh vực chính trị” nói riêng là nguy cơ có thật đang diễn ra trên đất nước ta. Cần phải làm cho người học thấy rõ chiến lược của đế quốc Mỹ đối với cách mạng thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng đã thay đổi. Đặc biệt là sau thất bại ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã rút ra bài học phải sư dụng các sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính trị trong quá trình xoá bỏ chủ nghĩa xã hội thế giới. Trong các tài liệu ta thu thập được của các tổ chức chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bọn đế quốc đã chính thức kiểm điểm rằng: “Hoa Kỳ đã từ lâu được coi là lãnh tụ của thế giới tự do, nhưng từ sau đại chiến lần H, Hoa Kỳ không biết dùng sức mạnh và sở trường của mình là kinh tế và tự do dân chủ trong cuộc đấu tranh chống lại cộng sản... Chính sách sai lầm này đã làm cho quyết tâm, uy tín và sức mạnh của người Mỹ bị thất bại trong chiến tranh Việt Nam nơi mà Hoa Kỳ đã tổn hao không biêts bao nhiêu tiền của, nhân lực bảo vệ một chân lý” (Báo cáo của Viện vận động dân chủ cho Việt Nam-IDV-Tài liệu tham khảo nội bộ). Vì vậy, hai nội dung cơ bản của chiến lược mở rộng của Mỹ là: “dân chủ hoá

quyền” trở thành một bộ phận quan trọng của chiến lược mới này.

Việc Tổng thống Mỹ Bin Clintơn trong lời tuyên bố về bình thường hoá quan hệ với Việt Nam đã để lộ mong muốn “sẽ thúc đẩy sự nghiệp tư do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây” càng chứng tỏ chúng rất ngang ngược và đặt nhiều hy vọng ở chiến lược điễn biến hoà bình ở Việt Nam.

Trước sự biến đổi của thực tiễn đổi mới ở trong nước và sự thay đổi chiến lược của chủ nghĩa đế quốc đối với nước ta, việc giảng dạy chuyên đề: “Hệ thống chính trị, xã hội chủ nghĩa trong thời ky quá độ lên chủ nghĩa xã hội” cũng cần phải được đổi mới theo những yêu cầu mới của môn học chủ nghĩa xã hội khoa học nói chung và chuyên đề này nói riêng.

2. Những yêu cầu cơ bản khi giảng dạy chuyên để: “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

trong điều kiện đang diễn ra cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình của nhân đân ta nhằm xây dựng và bảo vệ thành công chủ nghĩa xã hội

Những yêu cầu cơ bản khi giảng dạy chuyên đề này được đặt ra trên cơ sở những nguyên tắc, những phương hướng cơ bản trong quá trình đổi mới công tác giảng dạy bộ môn và trên cơ sở vai trò, vị trí và nội dung của chuyên đề. Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi bước đầu đưa ra được một số yêu cầu cơ bản sau:

Một là: Phải giúp người học nắm được một cách có hệ thống các tri thức khoa học về hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở trình độ cử nhân.

Tính hệ thống của các tri thức này cần phải được xem xét ở cả hai khia cạnh: Số lượng các tri thức, các khái niệm phạm trù, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với các tri thức của toàn bộ môn.

Đây là một chuyên đề có nội dung rất lớn, vì vậy số lượng phạm trù, khái niệm cũng rất nhiều. Ngoài phạm trù cơ bản “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, chuyên

dé còn phải trình bày, lý giải một loạt các khái niệm, phạm trù khác như: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, “Chuyên chính vô sản”, “cơ cấu của hệ thống chính trị...”, “chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị... va của mỗi bộ phận trong hệ thống”, “Quyền làm chủ của người dân lao động”, “hình thức của một hệ thống chính trị”. Chỉ có trang bị cho người học một hệ thống các tri

thức khoa học đó mới tạo được một cơ sở vững chắc để họ hiểu được bản chất, vai trò, vị trí, mục đích của hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa. Và đó cũng chính là tạo cơ sở để phê phán dân chủ tư sản chống ảnh hưởng của đân chủ tư sản — một nọi dung rất cơ bản để chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực chính trị — xã hội ở nước ta hiện nay vì ở ta nền dân chủ tư sản chưa phát triển đầy đủ các khía cạnh của nó và vẫn còn là một chiếc “bánh vẽ” mà kẻ thù đang tìm cách để lừa phỉnh những người chưa hiểu biết hết nền dân chủ tư sản.

Tính hệ thống của các khái niệm, phạm trù, quy luật trong chuyên đề: “Hệ thống chính trị...” thể hiện rõ nhất, đầy đủ nhất mối quan hệ ở tính tổng thể của các khái niệm, phạm trù quy luật đó. Chúng phản ánh

những khía cạnh khác nhau của đời sống chính trị — xã hội. Không làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau và giữa chúng với các khai niệm, phạm trù, quy luật khác của toàn môn học thì không thể giúp cho người học nắm chắc bản chất của các vấn đề và dễ mắc bệnh chủ quan siêu hình, máy móc, dẫn đến các biểu hiện tả hoặc hữu khuynh trong nhận thức cũng như hành động. Những mối quan hệ ngang dọc cần tập trung phân tích là mối quan hệ giữa “sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản” với “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa...” với

“Quyền lực chính trị của nhân dân lao động” với “Quyền lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân” với “Sự điều hành luật pháp của nhà nước” với “quyển đân chủ, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân lao động” với “liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” với “Vai trò của các tổ chức xã hội

— chính trị của nhân dân” và với các khai niệm “Nhất nguyên”, “đa nguyên”, “đa đảng”, “đa đảng đối lập”... Nhận thức và giải quyết tốt

Một phần của tài liệu Đổi mới nội dung giảng dạy một số chuyên đề lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện của cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình ở nước ta hiện nay (Trang 56 - 73)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(76 trang)