CHƯƠNG 1. KINH TẾ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
1.4. Thời kỳ sau chiến tranh thế giới 2 (1946 – đến nay)
1.4.4. Điều chỉnh kinh tế từ năm 1985 đến nay
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, dựa trên lý thuyết của J.M.Keynes, điều chỉnh kinh tế được coi là hoạt động thường xuyên của chính phủ các nước tư bản phát triển.
Tuy nhiên, trước những khó khăn, mâu thuẫn mới xuất hiện và dựa trên những lý thuyết kinh tế mới, từ đầu thập niên 1980 các nước tư bản thực sự bước vào giai đoạn tổng điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế với các nội dung chủ yếu sau:
- Thứ nhất , điều chỉnh sự can thiệp của chính phủ theo hướng là tăng hiệu quả của cơ chế thị trường
Thực tế, việc nhà nước gia tăng lượng cung tiền để kích thích đầu tư trong giai đoạn trước mặc dù đã mang lại những tác động tích cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế nhƣng đồng thời nó cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Đó là tình trạng thâm hụt ngân sách và lạm phát gia tăng. Vì vậy, các nước đã giảm tỷ trọng chi tiêu của nhà nước để giảm thâm hụt ngân sách, hạn chế mức cung tiền để ngăn chặn lạm phát. Lý thuyết trọng tiền là cơ sở lý luận cho điều chỉnh kinh tế đó.
Ở Mỹ, chính phủ đã thực hiện việc giảm chi tiêu ngân sách, ví dụ nhƣ: cắt giảm chi phí quốc phòng từ mức thường xuyên chiếm 35-38% ngân sách trước năm 1984 xuống mức 30%. Các cơ quan tài chính Mỹ áp dụng các biện pháp mới về điều tiết các
nguồn thanh toán tự do góp phần làm cho tốc độ tăng cung ứng tiền tệ giảm xuống, nhờ đó chỉ số giá cả đã giảm từ 12,4% năm 1980 xuống 8,9% năm 1981 và 3,9% năm 1982.
Ở nước Anh, chính phủ đã tiến hành tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực khai thác than, sắt thép, cung cấp gas, điện, nước, đường sắt, vận tải, hàng không và viễn thông. Bên cạnh đó, Anh cũng thực hiện tƣ nhân hóa nhà ở công cộng và đồng thời hạn chế chi tiêu và cải cách chế độ tài chính đối với các chính quyền địa phương. Chính sách tiền tệ được tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Ngân hàng trung ƣơng đã nâng cao mức thanh toán và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để hạn chế việc tăng khối lƣợng tiền tệ. Nhờ đó mà thâm hụt ngân sách đã giảm từ 4%
GDP năm 1980 xuống 1,5% năm 1983, chỉ số giá cả giảm từ 11,2% năm 1981 xuống 4,6% năm 1983.
Về thực chất, những nội dung điều chỉnh này là sửa đổi cách thức can thiệp của nhà nước và sự vận động của hệ thống tài chính - tiền tệ. Sau một loạt các biện pháp ổn định tài chính – tiền tệ thì xu hướng nới lỏng điều tiết của nhà nước, không can thiệp quá sâu vào hoạt động của nền kinh tế đã trở thành xu hướng chủ đạo. Việc khắc phục lạm phát cao và giảm chi tiêu nhà nước sẽ chủ yếu dựa vào các giải pháp kinh tế có tính phòng ngừa và mềm dẻo nhằm duy trì mức lạm phát phù hợp với nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Chính phủ sử dụng lãi suất tín dụng như một hệ thống “van điều chỉnh”
cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.
- Thứ hai, kích thích phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Tốc độ tăng đầu tư tư bản cố định ở các nước tư bản giảm sút nghiêm trọng trong thập niên 1970 là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đình trệ của nền kinh tế. Do vậy, chính phủ các nước đã chủ trương huy động mọi khả năng của nền kinh tế để kích thích đầu tƣ tƣ nhân. Chính phủ Mỹ đã cắt giảm 25% thuế thu nhập cá nhân trong vòng 3 năm (1981-1984). Hệ thống thuế thu nhập từ mức tối đa 50% và tối thiểu 10% đã giảm xuống tỷ lệ tương ứng là 30% và 10%. Ở Anh và các nước Tây Âu cũng có các biện pháp điều chỉnh thuế tương tự. Có điểm khác là các nước này giảm thuế trực thu đồng thời với việc mở rộng thuế giá trị gia tăng, chuyển gánh nặng thuế từ người kinh doanh sang người tiêu dùng để hạn chế tiêu dùng, tăng tiết kiệm .
Thực tế cho thấy, các biện pháp điều chỉnh thuế, giảm chi tiêu nhà nước có hiệu quả thực sự nếu những biện pháp này đƣợc kết hợp với việc thực hành phi điều chỉnh hóa ở một số lĩnh vực thuộc phạm vi sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. việc nhà nước nới lỏng mọi sự kiểm soát hành chính đẻ các doanh nghiệp tự do kinh doanh thích ứng với xu thế tự do hóa, vừa giảm đƣợc chi phí quản lý của nhà nước.
- Thứ ba, điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Sự đình trệ của nền kinh tế trước tác động của khủng hoảng dầu lửa phản ánh sự khủng hoảng cơ cấu kinh tế trong các nước tư bản. Trong giai đoạn trước, các nước tƣ bản dã phát triển mạnh các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều nguyên nhiên liệu, phụ thuộc quá nhiều vào nguồn năng lƣợng dầu lửa nhập ngoại giá rẻ. Vì vậy, khi giá dầu tăng cao, những ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lƣợng giảm sút nhanh chóng do thiếu hụt nguồn tài chính cho việc nhập khẩu dầu lửa đã kéo theo sự sụt giảm của nền kinh tế, đặc biệt là với những nước nhập khẩu nhiều dầu lửa. Mặt khác, do kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh trong nhiều năm nên tiền lương ở các nước tư bản cũng tăng lên, sức cạnh tranh của những ngành sử dụng nhiều lao động sẽ giảm sút so với các nước đang phát triển. Thực trạng đó cho thấy điều chỉnh cơ cấu kinh tế trở thành một yêu cầu cấp bách.
Hướng điều chỉnh là giảm bớt những ngành sử dụng nhiều năng lượng và nhân công, đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật- công nghệ để giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng. Đồng thời, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch chuyển lao động và vốn từ các ngành sản xuất vật chất sang các ngành dịch vụ sẽ tạo điều kiện cho các ngành sản xuất vật chất tổ chức lại, kết cấu lại theo hướng ngày càng hiện đại.
Sự cải cách cơ cấu trong ngành công nghiệp đã trở nên rõ rệt hơn với sự phát triển rất nhanh của các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Trong thực tế, vào những năm 1980, các nước tư bản đã đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật mới, thúc đẩy sự ra đời của những ngành có hàm lƣợng khoa học – công nghệ cao, sử dụng ít lao động, nhƣng đem lại giá trị gia tăng lớn. Nhằm phục vụ yêu cầu phát triển các ngành sản xuất vật chất công nông nghiệp cùng với các nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, các ngành dịch vụ cũng đƣợc mở rộng và hiện đại hóa nhanh chóng. Sự phát triển đa dạng của các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội và đóng góp vào tăng trưởng chung của nên kinh tế. Đó cũng là tiền đề để các nước tư bản phát triển thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức khi bước vào thế kỷ XXI.
Trong khi chuyển dịch cơ cấu trong nước theo hướng trên, các nước tư bản đã đẩy mạnh việc chuyển giao các ngành có công nghệ lạc hậu hơn, tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lƣợng và sử dụng nhiều lao động, thậm chí gây nhiều ô nhiễm sang các nước đang phát triển.
- Thứ tư, điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế
Các cuộc “chiến tranh thương mại” là biểu hiện những mâu thuẫn mới giũa các nước tư bản nhưng nó không dẫn đến các cuộc xung đột vũ trang như trước đây. Các nước tư bản đã tìm cách làm dịu những mâu thuẫn này thông qua các cuộc gặp gỡ cấp cao nhằm tìm ra các giải pháp chung để đƣa nền kinh tế của họ ra khỏi bế tắc, mà mở đầu la hội nghị những người đúng đầu sáu nước tư bản lớn (Mỹ, Nhật Bản, CHLB
Đức, Anh, Pháp, Italia) tại Pháp tháng 11-1975. Năm 1976 đã diễn ra cuộc họp thƣợng đỉnh lần thứ II gồm 7 nước (có thêm Canada) và từ đó gọi là nhóm G7. Hằng năm hội nghi thƣợng đỉnh G7 đƣợc tổ chức để bàn về các vấn đề kinh tế, chính trị trên thế giới và đƣa ra các chính sách của họ. Những chính sách đó không những chỉ có tác động đến kinh tế mỗi nước mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tinh hình kinh tế thế giới.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã ra đời thay thế cho GATT nhằm khắc phục tình trạng bảo hộ mậu dịch mới xuất hiện trong giai đoạn trước. Ngoài ra, nhiều tổ chức, diễn đàn kinh tế khu vực cũng đã ra đời nhằm xây dựng các khu vực mậu dịch tự do, liên minh kinh tế nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh với các khu vực khác nhƣ diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), liên minh châu Âu (EU)…
Tăng cường các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, diều chỉnh dòng chảy và phương thức đầu tư quốc tế là một nét mới trong điều chỉnh kinh tế các nước tư bản.
Trong hai thập niên cuối Thế kỷ XX, FDI của toàn thế giới đã gia tăng nhanh chóng, từ 511,9 tỷ USD năm 1980 đã tăng lên 1.700 tỷ USD năm 1990 và 4.000 tỷ USD năm 1998 nhƣng dòng chảy FDI thế giới đã có sự thay đổi lớn. Trong những năm 1950- 1960, dòng chảy của FDI thường tập trung vào các nước đang phát triển (chiếm khoảng 70% tổng số), 30% còn lại là đầu tư vào các nước tư bản phát triển, thì từ đầu thập kỷ 1990 dòng chảy của vốn đã đổi theo chiều ngược lại, vốn đầu tư vào các nước đang phát triển giảm xuống chỉ còn chiếm 16,8%. Năm 1989, FDI của Nhật Bản tập chung chủ yếu ở Bắc Mỹ (chiếm 50,2%) và Châu Âu (21,9%). Mỹ là nước nhận được vốn đầu tư nước ngoài nhất với 193 tỷ USD, chiếm gần 1/3 tổng số vốn FDI của thế giới, đồng thời cũng là nươc đầu tư ra nước ngoài lớn nhất đạt tới 133 tỷ USD. Đáng chú ý là những lĩnh vực công nghệ hiện đại có thể đem lại lợi nhuận cao nhƣng cần nhiều vốn là những lĩnh vực đƣợc chú ý đầu tƣ.
Sự thay đổi dòng vận động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo xu hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào các nước phát triển có nhiều nguyên nhân. Thực tế cho thấy, một nước thường không có lợi thế sản xuất tất cả các mặt hàng để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của xã hội, các doanh nghiệp trong nó không phải lúc nào cũng đủ khả năng về vốn, công nghệ, nhân lực để đầu tƣ vào những lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi đầu tƣ lớn. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế mở, sự xâm nhập và phụ thuộc lẫn nhau sẽ làm tăng thêm sự an toàn, sự chia sẻ rủi ro khi có các sự cố bất lợi khó lường xảy ra cho một nước. Đồng thời, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lại chính là biên pháp tốt nhất để một nước né tránh các hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước khác. Trong khi đó, các nước đang phát triển thường không có đủ kết cấu hạ tầng, trình độ của người lao động thấp không đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành với
công nghệ hiện đại, thị trường tiêu thụ có hạn vì thu nhập thấp, sức mua thấp đã bị giảm dần lợi thế cạnh tranh trong việc hấp dẫn các nguồn FDI.
Về thương mại quốc tế, chính phủ có chính sách hỗ trợ tài chính cho xuất khẩu, cụ thể là cấp tín dụng ưu đãi cho các nhà xuất khẩu dưới hai hình thức: thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu; cung cấp tín dụng ƣu đãi cho các nhà xuất khẩu (khoản chênh lệch giữa lãi suất ưu đãi và lãi xuất thị trường được nhà nước chi trả từ vốn ngân sách).
Trong nhiều trường hợp, nước nhập khẩu còn được vay tín dụng ưu đãi của các nước xuất khẩu để nhập khẩu theo các hợp đồng đã ký kết. Nhà nước còn bảo hiểm cho những thiệt hại rủi ro trong hoạt động xuất khẩu do sự không ổn định của hệ thống tiền tệ quốc tế. Việc tài trợ của nhà nước cho xuất khẩu còn được thực hiện dưới hình thức bồi hoàn thuế, tức nhà nước sẽ trả một phần thuế cho những nhà xuất khẩu nhập nguyên liệu và bán thành phẩm để sản xuất phục vụ xuất khẩu.
Nhìn chung, các chính sách điều chỉnh đã có tác dụng đáng kể đƣa nền kinh tế các nước tư bản thoát khỏi tình trạng suy thoái và đình trệ (1974 - 1982).
Từ năm 1983 đén 1990 kinh tế các nước tư bản phục hồi với nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 3,2%/năm, cao hơn mức 2,4% của giai đoạn 1973 - 1982. Trong những năm 1990 khủng hoảng tuy vẫn xảy ra ở một số nước nhưng mức độ suy thoái không trầm trọng như trước và không trùng pha giữa các nước với nhau. Giai đoạn 1993 - 2000, tốc độ tăng trưởng GDP của các nước phát triển đạt 3,1%.
Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước tư bản
(Đơn vị tính: %)
Năm Mỹ Nhật Bản EU
1990 1,3 5,6 2,5
1991 -1,0 4,5 1,5
1992 2,7 1,1 0,9
1993 2,3 0,1 0,5
1994 3,5 0,5 2,8
1995 2,0 0,9 2,5
1996 2,4 2,7 1,6
1997 3,7 1,1 2,5
1998 4,4 -2,5 2,9
1999 4,2 0,6 2,1
2000 5,2 1,4 3,4
Nền kinh tế Mỹ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 3,0%/ năm trong những năm 1980-1990. Sau đó bị suy thoái nhẹ vào năm 1991 (GDP giản 1%), nhƣng tính chung trong 10 năm (1990-1999) vẫn đạt tốc độ tăng bình quân 3,4%/năm. Năm 2000 tăng
trưởng kinh tế Mỹ đạt tới đỉnh cao nhất là 5,2%. Nền kinh tế Nhật Bản đã sớm ra khỏi tình trạng trì trệ và giữ tốc độ tăng trưởng với mức bình quân 4%/năm trong giai đoạn 1980-1990. Tuy nhiên, trong thập niên 1990, Nhật Bản lại rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 1,4%/năm. Kinh tế các nước Tây Âu phục hồi chậm chạp hơn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các giai đoạn tương ứng của Pháp là 2,3% và 1,7%, Đức là 2,2% và 1,5%, Italia là 2,4% và 1,2%, Anh là 3,2% và 2,2%.
Bên cạnh đó, sự chuyển dịch cơ câu kinh tế theo hướng giảm các ngành sản xuất vật chất đồng thời tăng các ngành dịch vụ cũng thể hiện rất rõ trong nền kinh tế các nước tư bản phát triển. Thực tế, khu vực I đã có xu hướng giảm xuống ngay từ trong quá trình công nghiệp hóa diễn ra ở các nước trước chiến tranh thế giới thư hai nhưng có xu hướng giảm tỷ trọng khu vực II chỉ diễn ra trong khoảng 20 năm cuối thế kỷ XX. Đồng thời với quá trình đó là sự gia tăng tỷ trọng của khu vực III. Những ngành được đẩy mạnh phát triển trong các nước tư bản từ những năm cuối thê kỷ XX là các ngành công nghệ cao nhƣ kỹ thuật điện tử, năng lƣợng mới, thông tin quang học, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ khai thác khoảng không…
Bảng 1.2. Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế
Đơn vị : %
Năm 1970 Năm 1990
KV I KV II KV III KV I KV II KV III
Mỹ 2,9 31,7 64,7 2 26,4 71,6
Nhật Bản 8,6 43,0 48,4 3 41,0 56
CHLB Đức 3,4 51,6 45 2 37 62
Anh 2,8 42,7 54,5 2 37 62
Pháp 6,9 54,4 38,7 3 29 67
Cơ cấu kinh tê của các nước tư bản còn thay đổi theo hướng phát triển mạnh mẽ các ngành khoa học công nghệ mới, đồng thời thúc đẩy quá trình quốc tế hóa nền kinh tế. Tỷ trọng các ngành công nghệ cao đã chiếm trên 50% tổng số sản phẩm xã hội ở Mỹ, chiếm trên 30% ở Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp… Khoa học công nghệ đã góp tới 50 - 60% vào sự tăng trưởng kinh tế, trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động.
Ở các nước tư bản phát triển,cơ cấu,trình độ nghiệp vụ và các yếu tố cấu thành giá tri hàng hóa sức lao động cũng biến đổi. Tỷ trọng lao động trong các ngành có hảm lƣợng khoa học công nghệ cao tăng lên. Tỷ lệ “công nhân cổ xanh” trong các ngành công nghiệp Mỹ giảm từ 30% năm 1960 xuống 20% năm 1980, hiện nay còn thấp hơn
rất nhiều. Trong thời đại kinh tế tri thức, chính phủ và các công ty tƣ nhân đã chú trọng đầu tư nâng cao trình độ của đội ngũ người lao động. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập, và chi tiêu cho việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động cũng được nâng lên. Các nước tư bản phát triển hiện nắm phần lớn tổng sản lượng sản xuất và cũng là những nước có mức thu nhập bình quân đầu người vào loại cao nhất thế giới.
Thực tế cho thấy, quá trình điều chỉnh kinh tế ở các nước tư bản phát triển chính là thực hiện cải cách một bước triệt để nền kinh tế cả về cơ cấu và cơ chế diều tiết trước xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Nó đã có tác dụng đáng kể đối với sự phát triển kinh tế, song các nước tư bản vẫn chưa giải quyết được nhiều căn bệnh cố hữu của nó. Do vậy, chính sách điều chỉnh kinh tế đã phá vỡ các tương quan truyền thống và tạo dựng thế quan hệ cạnh tranh mới. Điều đó cũng làm cho cạnh tranh giữa các nước công nghiệp chủ yếu trở nên đa dạng và quyết liệt hơn. Đây là một trong những vấn đề mà nền kinh tế các nước công nghiệp chủ yếu sẽ phải đối mặt trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Thực tế, thập kỷ đầu tiên thế kỷ XXI đánh dấu nhũng biến động lớn của nền kinh tế các nước tư bản. Năm 2001, tốc độ tăng trưởng của các nước tư bản phát triển đều giảm sút, Mỹ chỉ còn 1,1%; EU là 1,7% và Nhật Bản thậm chí còn tăng trưởng âm 0,9%. Những năm sau đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước đã được cải thiện tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tế thế giới đã bùng phát từ Mỹ năm 2007, lan tỏa nhanh chóng ra toàn thế giới và tạo ra cơn địa chấn với nền kinh tế thế giới.
Xét về bản chất, cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ chính sách tín dụng thế chấp rủi ro cao với thị trường bất động sản và chính sách tiền tệ nới lỏng được duy trì trong thời gian dài khi thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ của chính phủ đã dẫn tới sự hình thành siêu bong bóng tài chính và bất động sản. Tình trạng khó khăn , đổ vỡ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã lan nhanh sang các ngành sản xuất kinh doanh khác nhƣ ngành công nghiệp ô tô, xây dựng … Cuộc khủng hoảng bùng nổ từ Mỹ đã lan sang các nền kinh tế Tây Âu. Thực tế cho thấy, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh doanh nhƣ tài chính ngân hàng, công nghiệp ô tô, điện tử, bất động sản vốn đƣợc coi là siêu lợi nhuận đã rơi vào tình trạng suy sụp.
Năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các nước tư bản phát triển đều sụt giảm mạnh. Năm 2009, hầu hết các nền kinh tế tƣ bản phát triển nhất đều rơi vào tình trạng suy thoái. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Mỹ là -2.6%; CHLB Đức là -4.7%;
Nhật Bản là -6.3%; Anh -4.9%; Pháp -2.5%. Tính chung, tăng trưởng kinh tế các nước phát triển là -3.4%.