CHƯƠNG 4. KINH TẾ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
4.1. Quá trình hình thành hệ thống kinh tế Xã hội chủ nghĩa
4.1.1. Sự xuất hiện Chủ nghĩa xã hội
Đầu thế kỷ XIX chủ nghĩa xã hội mới chỉ là các thuyết không tưởng của Saint Simont, R.Owen và Furier. Năm 1848 với “ tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, K.Mark và F. Engels đã đặt nền tảng lý luận cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1871 sự kiện công xã Pari nổ ra ở Pháp là sự thể nghiệm đầu tiên về mô hình xã hội tương lai đó, nhưng công xã Pari chỉ tồn tại trong thời gian gần ba tháng và để lại cho phong trào cách mạng vô sản thế giới những bài học kinh nghiệm sâu sắc.
Đến năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập. Chủ nghĩa xã hội đã thành hiện thực trên 1/5 quả địa cầu. Ngọn cờ của Cách mạng tháng Mười Nga đã thức tỉnh hàng triệu người vùng lên đấu tranh chống áp bức, đã đưa chủ nghĩa tư bản vào giai đoạn tổng khủng hoảng và mở ra thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội. Trong những năm từ 1917-1920 làn sóng cách mạng đã lan sang một số nước Phần Lan, Đức, Aó, Hunggari, Triều Tiên. Tuy cách mạng không thành công, nhƣng giai cấp thống trị ở các nước đó đã buộc phải thực hiện những cải cách xã hội nhất định, mở rộng quyền bầu cử, cải cách ruộng đất, thi hành ngày làm việc 8 giờ, bảo hiểm xã hội …
Sau đó, năm 1921 cách mạng Mông Cổ thành công, dẫn đến việc thành lập nước cộng hòa nhân dân Mông Cổ vào năm 1924.
Năm 1945, việc Liên Xô chiến thắng phát xít Đức và phát xít Nhật đã tạo điều kiện cho hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu và châu Á ra đời. Chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước đã trở thành một hệ thống thế giới. Trong lịch sử loài người chưa bao giờ bản đồ chính trị và kinh tế thế giới lại thay đổi với quy mô to lớn và tốc độ nhanh chóng nhƣ vậy.Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đƣợc xuất hiện là sự kiện lịch sử quan trọng nhất sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga.
Tiếp đó, năm 1959 chủ nghĩa đế quốc lại bị đòn mới nặng nề nữa: đó là sự thắng lợi của cách mạng Cuba và việc thành lập nước cộng hòa Cuba, chủ nghĩa xã hội đã lan sang cả châu Mỹ La tinh.
Vào đầu những năm 70, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã bao gồm 1/4 diện tích, 1/3 dân số thế giới.
Sau đó hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng thêm: cách mạng ở một số nước ở châu Á, Phi, Mỹ la tinh đã thành công và tuyên bố đi theo con đường của nhủ nghĩa xã hội hoặc có xu hướng xã hội chủ nghĩa như Afghanistan, Angola, Angola, Lào, Nicaragua.
4.1.2. Quan hệ hợp tác giữa các nước Xã hội chủ nghĩa
Các nước xã hội chủ nghĩa tuy xuất phát từ những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội rất khác nhau, nhƣng có nhiều điểm giống nhau về cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng, nên mối quan hệ hợp tác kinh tế ngày càng được tăng cường.
Quá trình phát triển của mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa có thể chia ra làm hai thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất (1944 - 1948): đây là thời kỳ khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh ở các nước Đông Âu và Liên Xô.
Các nước XHCN ở châu Âu trừ Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, trước chiến tranh thế giới thứ hai thực chất là những nước nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc vào Tây Âu, là “ sân sau kinh tế của Tây Âu”. Sản phẩm công nghiệp tính theo đầu người ít hơn các nước Tây Âu tới 2 - 3 lần. Không những thế, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã làm cho nền kinh tế của các nước đó bị thiệt hại nặng nề.
Trong hoàn cảnh ấy, mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước XHCN Đông Âu đặt ra là vô cùng cần thiết và quan trọng. Nó quyết định hướng phát triển của chủ nghĩa xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Trong thời kỳ này quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước XHCN có đặc điểm là mang tính chất song phương và chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực ngoại thương và tín dụng. Liên Xô cung cấp cho các nước Đông Âu:
than, dầu, lương thực, thực phẩm và những thứ khác cần thiết cho công cuộc khôi phục kinh tế như thiết bị, quặng sắt… và Liên Xô còn cho các nước Đông Âu vay vốn lãi suất thấp hơn nhiều so với lãi suất trong thế giới tƣ bản.
Với sự giúp đỡ của Liên Xô, nói chung đến cuối năm 1948, nền kinh tế quốc dân của phần lớn các nước XHCN Đông Âu đã cơ bản được phục hồi, đạt và vượt mức trước chiến tranh, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước này.
- Thời kỳ thứ hai (từ năm 1949 - 1991): Đây là thời kỳ thực hiện những cải tạo quan trọng trong nền kinh tế quốc dân ở các nước XHCN, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH… giành sự thắng lợi của chế độ XHCN ở các nước đó.
Trong thời kỳ này, mối quan hệ kinh tế giữa các nước XHCN có những đặc điểm mới: chuyển sang tính chất đa phương; mở rộng các lĩnh vực quan hệ hợp tác sang cả khoa học kỹ thuật và sản xuất. Hoạt động trong một tổ chức kinh tế chung. Việc thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) là một đặc điểm nổi bật của sự phát triển của các nước XHCN.
Hội đồng tương trợ kinh tế được thành lập vào tháng 1 năm 1949. Lúc đầu tổ chức này gồm 6 nước: Liên Xô, Bungari, Hunggari, Rumani, Ba Lan và tiệp khắc.
Trong quá trình phát triển, tổ chức này dần dần có thêm một số thành viên mới:
Anbani tham gia năm 1949CHDC Đức tham gia năm 1950, Mông Cổ - 1962, Cuba - 1972,Việt Nam năm1978.
Ngoài những thành viên chính thức, còn một số nước tham gia với tư cách là quan sát viên như Triều Tiên, Ăngôla, Apganixtan, Êtiopia, Yemen, Lào… Và có nước tham gia từng mặt trong các hoạt động của hội đồng nhƣ Nam Tƣ, Phần Lan, Irắc…
Mục tiêu cơ bản của hội đồng tương trợ kinh tế là phát triển hợp tác kinh tế nhiều bên, trên cơ sở thực hiện triệt để nguyên tắc phân công lao động quốc tế XHCN, tác động đến sự phát triển kinh tế của các nước thành viên, nâng cao trình độ công nghiệp hóa, năng suất lao động và phúc lợi của nhân dân lao động của các hội viên…
Hội đồng tương trợ kinh tế đã thể hiện là một hệ thống quan hệ mới về kinh tế giữa các nước bình đẳng có chủ quyền.
Từ khi thành lập, Hội đồng tương trợ kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn hoạt động cụ thể, nhƣ sau:
- Giai đoạn 1 (1948 - 1958): hoạt động của Hội đã tổ chức sự hợp tác kinh tế nhiều bên, giúp đỡ nhau giải quyết những vấn đề về nguyên liệu, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, máy móc thiết bị và cho vay, phát triển ngoại thương và hợp tác về khoa học kỹ thuật.
- Giai đoạn 2 (1959 - 1962): hình thành cơ sở của việc chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất giữa các thành viên, thành lập các tổ chức phối hợp kinh doanh giữa các nước XHCN như: ống dẫn dầu” hữu nghị”, hệ thống năng lượng điện “hòa bình”… và Hội đồng còn thành lập các cơ quan chuyên môn để điều hành các mặt hoạt động của mình nhƣ: Uỷ ban hợp tác về công tác kế hoạch, Uỷ ban hợp tác về khoa học kỹ thuật và các ban thường trực bao gồm các ngành kinh tế quốc dân chủ yếu.
- Giai đoạn 3 (1962 - 1969): hoạt động của hội ở giai đoạn này đã thể hiện là một nhất thể hóa kinh tế xã hội chủ nghĩa mở rộng hợp tác sản xuất và khoa học kỹ thuật.
Nhất thể hóa kinh tế xã hội chủ nghĩa là sự hợp tác bao gồm nhiều mặt giữa các nước thành viên, nhằm thúc đẩy sự phát triển và sự hoàn thiện của phân công lao động quốc tế.
Trong giai đoạn này hoạt động của Hội đồng đã tăng cường hợp tác trong sản xuất nhƣ điện lực, chế tạo máy, dầu khí đốt, luyện kim… Hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, gồm 3.000 tổ chức khoa học kỹ thuật tham gia, thành lập tổ chức quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ, thành lập ngân hàng quốc tế XHCN trong lĩnh vực tín dụng và đầu tƣ.
- Giai đoạn 4 (từ năm 1969 - 1991) trong giai đoạn này, hoạt động của Hội đồng đã đi sâu vào nhất thể hóa kinh tế XHCN, dưới hình thức phối hợp kế hoạch kinh tế quốc dân. Đó là một hiện tƣợng mới trong quan hệ kinh tế XHCN. Việc phối hợp kế hoạch đã có tác dụng quan trọng trong việc giải quyết một cách tổng hợp các vấn đề
kinh tế quốc dân của các nước thành viên. Năm 1971 có một văn kiện quan trọng vào bậc nhất được kí kết: chương trình tổng hợp tiếp tục tăng cường và hoàn thiện sự hợp tác và nhất thể hóa kinh tế của các nước thành viên.
Chương trình tổng hợp đề ra các biện pháp chủ yếu nhằm tăng cường phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hoạt động khoa học, phối hợp các kế hoạch kinh tế quốc dân bổ sung việc phối hợp các kế hoạch 5 năm bằng việc phối hợp các kế hoạch dài hơn.
Khóa họp lần thứ 45 của Hội đồng đánh giá từ khi được thành lập, Hội đồng tương trợ kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của các nước thành viên. Nhưng những năm gần đây, Hội đồng tương trợ kinh tế đã dần dần mất tính hiệu quả và tính năng động của nó. Do đó, Hội đồng tương trợ kinh tế sau đó không tồn tại nữa.