CHƯƠNG 5. KINH TẾ LIÊN XÔ (cũ)
5.2. Kinh tế Liên Xô thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội (1918 -1955)
- Quốc hữu hóa toàn bộ ruộng đất của địa chủ, nhà tu và nhà thờ, giữ lại một phần làm nông trường quốc doanh, còn một phần lớn đem chia cho nông dân sử dụng.
Sắc lệnh về quốc hữu hóa ruộng đất đƣợc ban hành ngày 8/11/1917, đánh dấu giai đoạn kết thúc cuộc cách mạng dân chủ tƣ sản ở Nga, mở đầu cho quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Thực hiện chế độ kiểm soát của công nhân: sắc lệnh này đƣợc ban hành ngày 14 tháng 11 năm 1917, từ đó đến cuối tháng 11 năm 1917 ở tất cả các xí nghiệp lớn và vừa trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, tài chính quan trọng nhất đều thành lập các Uỷ ban kiểm soát của công nhân. Đó là biện pháp quá độ để công nhân làm quen với việc quản lý xí nghiệp, ngăn chặn những hành vi phá hoại của tƣ sản.
- Quốc hữu hóa đối với đường sắt, hầm mỏ, ngoại thương, bưu điện, ngân hàng lớn và công nghiệp. Từ tháng 11 năm 1917 đến tháng 10 năm 1918 tất cả đã có 3.668 xí nghiệp đã vào tay nhân dân lao động. Các cơ sở công nghiệp, thương nghiệp, giao thông bưu điện đã quốc hữu hóa, được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng kinh tế tối cao.
- Thực hiện kế hoạch tiến quân vào cách mạng xã hội chủ nghĩa: đầu năm 1918 Lênin đã đề ra kế hoạch khôi phục lại nền kinh tế và kế hoạch phát triển kinh tế trong thời gian trước mắt-kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng đến cuối năm 1918, kế hoạch đó phải hoãn lại vì có nội chiến.
5.2.2. Thời kỳ nội chiến (1918 - 1920)
Trong giai đoạn này nước Nga thực hiện chính sách “Kinh tế cộng sản thời chiến” với những nội dung cơ bản:
- Trưng thu lương thực thực thừa của nông dân, Nhà nước độc quyền mua bán lúa mì để cung cấp cho thành thị và quân đội.
- Nhà nước kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm không những đối với đại công nghiệp mà cả trung và tiểu công nghiệp.
- Quốc hữu hóa cả những xí nghiệp vừa và nhỏ, có từ 5 công nhân trở lên và 10 công nhân trở lên nếu không có động cơ.
- Cấm buôn bán trao đổi sản phẩm ở trên thị trường, nhất là lúa mì, thực hiện chế độ tem phiếu, trực tiếp phân phối bằng hiện vật cho người tiêu dùng, xóa bỏ ngân hàng Nhà nước.
- Đặt chế độ lao động cƣỡng bức với nguyên tắc: “ không làm thì không ăn”.
Nhờ thực hiện chính sách “kinh tế cộng sản thời chiến” mà Nhà nước Xô viết mới có lương thực để cung cấp cho quân đội và nhân dân, đảm bảo đánh thắng thù trong giặc ngoài. Khi đánh giá về chính sách đó, Lênin đã nói “Trong điền kiện chiến tranh mà chúng ta đã lâm vào thì về cơ bản chính sách đó là đúng”.
Đồng thời, trong thời gian này khí thế lao động của quần chúng đƣợc lên cao
“Ngày thứ bảy lao động Cộng sản chủ nghĩa” được thực hiện trên toàn nước Nga. Đó là sáng kiến vĩ đại của công nhân đường sắt và sau đó được công nhân, người lao động trong cả nước hưởng ứng.
Chính sách kinh tế cộng sản thời chiến hoàn toàn không phải là một giai đoạn tất yếu trong chính sách kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đó là chính sách tạm thời .
5.2.3. Thời kỳ khôi phục kinh tế (1921 – 1925)
Hoàn cảnh lịch sử: Nền kinh tế bị khủng hoảng nghiêm trọng: sản lượng lương thực năm 1920 chỉ bằng 1/2 so với năm 1913 – nạn đói xảy ra khắp nơi; đại công nghiệp bằng 1/7; giao thông vận tải tê liệt…
- Chính sách kinh tế cộng sản thời chiến không còn phù hợp, đặc biệt chính sách trưng thu lương thực thừa đã gây bất bình đối với nông dân, một số cuộc bạo loạn đã nổ ra, nguy cơ liên minh công - nông tan vỡ
- Trước tình hình đó, Lênin đã đưa ra Chính sách kinh tế mới NEP nhằm khôi phục kinh tế nước Nga.
Nội dung của Chính sách kinh tế mới (NEP):
- Thay chính sách trưng thu lương thực thừa bằng chính sách thuế lương thực - Cho phép tƣ nhân thuê hoặc mua lại các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ - Cho phép trao đổi buôn bán, cải cách tiền tệ
- Thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong các xí nghiệp quốc doanh - Kêu gọi nước ngoài đầu tư kinh doanh
Ý nghĩa
- Chính sach kinh tế mới của Lênin đã có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn là thúc đẩy quá trình khôi phục nhanh chóng, đồng thời củng cố khối liên minh công nông và tạo cơ sở cho sự ra đời của Liên bang Cộng hoà XHCN Xô Viết ra đời (30.12.1922)
- Ý nghĩa lý luận: chính sách NEP của Lênin đã đƣa ra nhiều kinh nghiệm và lý luận thực tiễn đối với quá trình phát triển kinh tế sau này, đặc biệt là đối với các nước thuộc khối XHCN.
5.2.4 Thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội.
* Hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa.
- Cải tạo xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất nhằm thay thế chế độ chiếm hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất bằng chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất với hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể
- Thực chất là chuyển biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể).
Nội dung:
- Nông nghiệp: Thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp, đƣa nông dân vào làm ăn tập thể bằng việc xây dựng các nông trang tập thể.
- Công thương nghiệp: nhà nước tịch thu các cơ sở kinh tế của tư bản tư nhân và biến thành các xí nghiệp quốc doanh.
Kết quả: Năm 1937 hoàn thành, nền kinh tế trở nên thuần nhất chỉ bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
* Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
- Liên Xô đã đưa ra khái niệm công nghiệp hóa là: “Quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy…” . Nhiệm vụ công nghiệp hoá XHCN ở Liên Xô đƣợc đề ra tại đại hội XIV của Đảng Cộng sản Liên Xô (12 - 1925).
- Tiến trình thực hiện:
+ Bước thứ nhất: Bước chuẩn bị hay còn gọi là bước lấy đà, chủ yếu cải tạo lại các xí nghiệp cũ và xây dựng mới các xí nghiệp vừa và nhỏ. Đến cuối năm 1927 nền công nghiệp Xô viết đã vượt xa nước Nga trước cách mạng.
+ Bước thứ hai: Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là bước triển khai có ý nghĩa quyết định. Liên Xô đã xây dựng đƣợc một nền công nghiệp nặng to lớn với kỹ thuật tiên tiến, đã đƣa vào sản xuất 1.500 xí nghiệp công nghiệp mới, chủ yếu là xí nghiệp có quy mô lớn và hiện đại, đã cho ra đời những ngành mới của đất nước như sản xuất máy kéo, máy lien hợp, ô tô, máy bay, máy công cụ, tơ nhân tạo và chất dẻo.
+ Bước thứ ba: Kế hoạch 5 năm lần thứ hai là bước hoàn thành việc trang bị kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Đặc điểm ông nghiệp hoá ở Liên Xô:
+ Liên Xô ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng ngay từ đầu.
+ Nguồn vốn cho công nghiệp hoá hoàn toàn dựa vào tích luỹ trong nước.
+ Tiến hành một cách có kế hoạch và đƣợc chỉ đạo theo kế hoạch thống nhất, tập trung cao độ.
+ Tác động trực tiếp đến nông nghiệp: cung cấp máy móc để thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp.
+ Diễn ra với tốc độ nhanh và hoàn thành trong thời gian ngắn.
+ Trong đó có nhiều nguyên nhân, nhƣng có một nguyên nhân rất quan trọng cần đƣợc nhấn mạnh là có sự nỗ lực chủ quan của nhân dân Liên Xô trong quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở các phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được phát triển mạnh mẽ khắp đất nước Liên Xô.
Đến năm 1937 Liên Xô đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đã từ một nước đứng thứ 5 thế giới trở thành thứ hai thế giới, đứng đầu châu Âu về sản xuất công nghiệp- trở thành một cường quốc công nghiệp.
Sau đó Liên Xô thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ ba để phát triển mạnh mẽ hơn nữa ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành luyện kim có chất lƣợng cao, hóa chất, xây
dựng các xí nghiệp mới ở Uran và vùng phía Đông Liên Xô. Nhƣng kế hoạch này chỉ đƣợc thực hiện trong 3 năm rƣỡi.
5.2.5. Thời kỳ chiến tranh vệ quốc (1941– 1945)
Trong giai đoạn Liên Xô đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn trong công cuộc khôi phục kinh tế:
- Khôi phục công nghiệp: đã đƣợc hoàn thành trong 4 năm 3 tháng. Sản lƣợng công nghiệp năm 1950 tăng 75% so với năm 1940, đã xây dựng đƣợc 6.000 xí nghiệp mới trong nhiều lĩnh vực.
- Khôi phục nông nghiệp: đến năm 1950 diện tích và sản lƣợng đạt đƣợc mức trước chiến tranh. Riêng đàn gia súc chưa khôi phục lại được, vì ngành chăn nuôi bị thiệt hại quá lớn trong những năm chiến tranh.
- Giao thông vận tải: được khôi phục ngang mức trước chiến tranh, về kỹ thuật được cải tiến hơn, nhiều tuyến đường được điện khí hóa, ngành vận tải đường ống đƣợc bắt đầu ra đời và nhanh chóng mở rộng.
- Thương nghiệp và tiền tệ: mạng lưới thương nghiệp được mở rộng hơn nhiều so với trước chiến tranh, hệ thống tem phiếu được bãi bỏ. Mối quan hệ kinh tế đối ngoại của Liên Xô được bước sang thời kỳ mới hình thành mối quan hệ hợp tác giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trong khối SEV.
5.2.6. Thời kỳ hoàn thiện chủ nghĩa xã hội (1951 – 1955)
Sau khi Liên Xô hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế, đã bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1951-1955) hoàn thiện công cuộc của kế hoạch này là phát triển mạnh mẽ hơn nữa mọi ngành kinh tế quốc dân, nâng cao hơn nữa phúc lợi vật chất và văn hóa của nhân dân.
Công nghiệp nặng vẫn đƣợc phát triển mạnh. Năm 1954 nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới đƣợc xây dựng.
Nông nghiệp đã khắc phục một bước quan trọng hiện tượng trì trệ trong thời kỳ công nghiệp hóa. Liên Xô đã nêu rõ nguyên nhân của sự trì trệ đó là do: trong những năm công nghiệp hóa vốn tập trung vào công nghiệp nặng quá lớn, trong chiến tranh, nông nghiệp Liên Xô, đặc biệt ở miền Tây bị phá hoại nặng nề và công tác quản lý có nhiều thiếu xót. Nhà nước Xô viết đã tập trung thực hiện hàng loạt các biện pháp để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp: hệ thống phục vụ về vật chất và kỹ thuật cho các nông trang tập thể và chế độ thu mua nông phẩm đƣợc cải tổ về căn bản.