Kinh tế Trung Quốc từ ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đến năm 1978

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 85 - 92)

CHƯƠNG 6. KINH TẾ TRUNG QUỐC

6.2. Kinh tế Trung Quốc từ ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đến năm 1978

6.2.1. Khôi phục kinh tế từ 1949 - 1952

Sau ngày giải phóng, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng trước nhiều khó khăn, sản xuất nông công thương nghiệp trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng. Do vậy công cuộc khôi phục kinh tế đã đƣợc triển khai trên tất cả các lĩnh vực kinh tế:

* Trong nông nghiệp:

- Khắp các vùng nông thôn Trung Quốc thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất, từ tháng 6 năm 1950 đến cuối năm 1952 thì cải cách ruộng đất đã cơ bản hoàn thành.

Kết quả 46 triệu ha ruộng đất đƣợc chia cho 300 triệu nông dân.

- Quan hệ sản xuất trong nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi, quan hệ sản xuất phong kiến đã bị thủ tiêu, đồng thời trong điều kiện cụ thể thì sở hữu nhỏ và sản xuất nhỏ của người nông dân đã trở thành cơ sở cho sự phát triển của nông nghiệp của Trung Quốc. Ngay trong giai đoạn cải cách ruộng đất, Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp. Năm 1951 có 300 hợp tác xã, tới năm 1952 đã nâng lên 4000 hợp tác xã.

- Để tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, Trung Quốc còn chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi. Từ năm 1949 - 1952, số lƣợng đất đào đắp là 1700 triệu m3, nhƣ vậy là gấp 25 lần kênh đào Xuyê và 10 lần so với kênh đào Panama về số lƣợng đất đào đắp.

- Sản xuất nông nghiệp có điều kiện nhanh chóng phục hồi. Năm 1949, sản lƣợng lương thực là 108 triệu tấn, tới năm 1952 tăng lên 159,3 triệu tấn.

* Về công thương nghiệp:

- Trung Quốc đã tiến hành quốc hữu hóa nhằm thủ tiêu quyền lực kinh tế của tƣ bản trong và ngoài nước. Trên cơ sở ấy, các cơ sở kinh tế quốc doanh đã hình thành và nhà nước đã nắm lấy những mạch máu kinh tế quan trọng. Nhìn chung, tới cuối năm 1952, trong công nghiệp, kinh tế quốc doanh chiếm 50% giá trị sản lƣợng công nghệp;

trong thương nghiệp, kinh tế quốc doanh chiếm 95% trong tổng số chu chuyển hàng hóa và vật tƣ.

- Trong lĩnh vực công thương nghiệp, bước đầu đã hình thành nên quan hệ kinh tế mới, góp phần tác động tích cực tới sự phát triển cảu nền kinh tế. Năm 1952 so với năm 1949, giá trị sản lƣợng công nghiệp tăng 77,5%.

- Giá cả và tiền tệ cũng đi vào ổn định. Do vậy, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện, hoạt động tài chính tiến hành có kết quả. Năm 1952 thu chi tài chính cân bằng, riêng số thu năm 1952 so với năm 1949 tăng 239%.

Nhƣ vậy sau 3 năm tiến hành khôi phục kinh tế, kinh tế Trung Quốc đã thu đƣợc những thắng lợi cơ bản. Năm 1952, tổng giá trị sản lƣợng nông công nghiệp đạt 177,5% so với năm 1949. Tuy vậy, nhìn vào nền kinh tế Trung Quốc, với công nghiệp thì sản phẩm tính theo đầu người còn thấp, ví dụ thép là 2,3kg, dầu lửa 0,7kg … Từ tình trạng ấy, hàng năm Trung Quốc phải nhập 95% số lƣợng thép, 76% thiết bị máy móc, 21% nguyên liệu dệt và 99% số lượng dầu mỏ … Để từng bước xóa bỏ tình trạng thấp kém và lạc hậu của nền kinh tế, Trung Quốc đã triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 -1957) với 2 nhiệm vụ là cải tạo và phát triển kinh tế.

6.2.2. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 -1957)

Vào năm 1952, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra đường lối chung trong thời kỳ quá độ là trong một thời kỳ dài, dần dần thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, dần dần cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản theo hướng xã hội chủ nghĩa. Dựa theo tinh thần đó, Trung Quốc đã vạch ra những nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch 5 năm làn thứ nhất (1953 -1957).

Để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 - 1957), Trung Quốc đã xúc tiến công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn, từ thành thị tới nông thôn, với tất cả các đối tƣợng nhƣ nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và những nhà công thương nghiệp, tư bản tư doanh. Nhìn chung công cuộc cải

tạo diễn ra với tốc độ nhanh và cơ bản hoàn thành vào nửa đầu năm 1956. Ví dụ, trong nông nghiệp vào năm 1956 có 96% số hộ nông dân tham gia hợp tác xã, trong đó có 87% hộ nông dân tham gia hợp tác xã bậc cao.

Chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đã chiếm ƣu thế tuyệt đối trong nền kinh tế. Từ đó, tỷ trọng các thành phần kinh tế trong nền kinh tế Trung Quốc đã có sự thay đổi. Từ năm 1952 - 1957, kinh tế quốc doanh tăng từ 19% lên 33%, kinh tế hợp tác xã từ 1,5%

lên 56%, kinh tế công tƣ hợp danh từ 0,7% lên 8%, cũng trong thời gian ấy, kinh tế cá thể từ 73% giảm xuống 3%, kinh tế tƣ bản tƣ doanh từ 7% giảm xuống 0,1%.

Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Trung Quốc chủ trương thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa:

- Trong công nghiệp, Trung Quốc lấy xây dựng và phát triển công nghiệp nặng làm trung tâm, gồm những ngành điện lực, than, gang, thép, hóa chất … Trong thời gian 1953 - 1957 việc xây dựng công nghiệp ở Trung Quốc đã đƣợc sự giúp đỡ nhiều mặt của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Các nước này đã giúp Trung Quốc 200 công trình công nghiệp quan trọng, được coi là xương sống của nền công nghiệp Trung Quốc đã bước đầu hình thành. Nhìn vào kết quả của sản xuất công nghiệp, tốc độ tăng hàng năm đạt 18%.

- Với sản xuất nông nghiệp, phong trào cải tiến kỹ thuật là xây dựng các công trình tưới tiêu đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Nhịp độ tăng hàng năm của nông nghiệp đạt 4,5%. Do vậy, sản lượng lương thực năm 1957 đạt 185 triệu tấn.

Nhƣ vậy việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 -1957) của Trung Quốc đã thu đƣợc một số thắng lợi cơ bản. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã đƣợc xác lập và đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của nền kinh tế. Sản xuất nông công nghiệp đều có những tiến bộ.

Tuy vậy, với nền kinh tế Trung Quốc, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lao động thủ công còn phổ biến, năng suất lao động thấp. Qua cải tạo xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đã đƣợc xác lập, nhƣng trình độ tổ chức và quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém. Trong quá trình tiến hành, về quan điểm, Trung Quốc cho rằng:

nền kinh tế càng thuần khiết xã hội chủ nghĩa càng tốt. Quan điểm này phản ánh tƣ tưởng chủ quan, nóng vội, muốn hoàn thành nhanh chóng cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Việc đánh giá kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa thường căn cứ vào số lượng, chứ ít chú ý tới chất lƣợng và hiệu quả.

Chính quan điểm nói trên đã phản ánh tới việc lựa chọn hình thức, bước đi trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc. Qua thực tế chỉ ra rằng, những hạn chế nói trên là chƣa nhận thức đầy đủ đặc điểm kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chƣa thấy đƣợc quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình

độ của lực lƣợng sản xuất. Tình trạng này nếu không đƣợc khắc phục kịp thời sẽ để lại những hậu quả kinh tế to lớn trong thời kỳ lịch sử tiếp theo.

6.2.3. Kinh tế từ năm 1958 tới năm 1978

Từ năm 1958 đến năm 1978 là giai đoạn Trung Quốc với những chính sách kinh tế tả khuynh, nóng vội, duy ý chí đƣợc phản ánh qua các mốc lịch sử cụ thể nhƣ “Đại nhảy vọt” (1958 - 1965), “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (1966 - 1976), “Bốn hiện đại hóa” (1976 - 1978). Những chính sách nói trên đã đƣa nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng khủng hoảng, mất cân đối nghiêm trọng.

* Kinh tế thời “Đại nhảy vọt” (1958 - 1965).

Vào tháng 9 năm 1956, đại hội Đản cộng sản Trung Quốc đã họp và khẳng định lại đường lối xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, đồng thời còn phê phán những biểu hiện tả khuynh trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế của giai đoạn trước. Đại hội còn vạch ra những chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1958 - 1962), những giá trị tổng sản lƣợng nền kinh tế sẽ tăng 75% so với năm 1957, trong đó công nghiệp tăng gấp 2 lần, nông nghiệp tăng 35%.

Nhƣng sau đó tình hình thực tế không diễn ra nhƣ vậy. Vì từ hội nghị lần thứ 2 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tư tưởng Mao Trạch Đông đã chi phối toàn bộ đường lối phát triển của Trung Quốc. Do vậy, những mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ hai đã đƣợc sửa chữa lại. Trung Quốc dự định nâng sản lƣợng công nghiệp lên 6,5 lần, sản lƣợng nông nghiệp lên 2,5 lần. Trong công nghiệp, một số ngành đƣợc đề ra với mục tiêu rất cao, nhƣ sản xuất thép tăng 18 lần, điện tăng 15 lần, xi măng tăng 10 lần …

Để hướng tới những mục tiêu kinh tế nói trên, Trung Quốc phát động phong trào ba ngọn cờ hồng: “Đường lối chung, đại nhẩy vọt và công xã nhân dân”.

- Với công nghiệp, Trung Quốc tập trung cao độ để phát triển những ngành công nghiệp nặng nhƣ luyện kim, chế tạo máy, hóa chất, điện lực ... Do tập trung cao độ để phát triển công nghiệp nặng nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng, thể hiện giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa quy mô xây dựng và khả năng kinh tế tài chính, vật tƣ kỹ thuật, giữa tích lũy và tiêu dùng.

Bên cạch đó Trung Quốc còn phát động phong trào toàn dân làm công nghiệp, toàn dân làm gang thép. Đây là thời điểm sản xuất thép đƣợc đƣa lên hàng đầu, năm 1962 chỉ tiêu đặt ra là 10,5 - 12 triệu tấn, sau nâng lên 80 - 100 triệu tấn. Do vậy, khắp đất nước Trung Quốc nhanh chóng mọc lên hàng chục xí nghiệp, lò cao do nhân dân xây dựng. Sản xuất gang thép trong điều kiện nhƣ vậy nên chất lƣợng rất thấp. Hàng triệu tấn thép do nông dân luyện đúc không thể sử dụng đƣợc gây lãng phí tiền vốn và sức lao động.

- Với nông nghiệp, từ năm 1958, Trung Quốc xúc tiến xây dựng công xã nhân dân ồ ạt. Mỗi công xã khoảng 5000 hộ nông dân. Nhìn chung, tới năm 1958 tất cả các nông dân đã đƣợc đƣa vào các công xã. Đây là giai đoạn khắp nông thôn Trung Quốc tiến hành trƣng thu ồ ạt tƣ liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xóa bỏ , phân phối áp dụng theo chính sách bình quân. Để tăng thêm tích lũy nông nghiệp, Trung Quốc còn phát động phong trào học tập và noi gương công xã Đại Trại. Đó là công xã không xin nhà nước chi viện, giúp đỡ, đã tự lực, tự cường, phát triển và có nhiều đóng góp với nhà nước.

Nhƣ vậy từ những ý đồ, cùng những tham vọng chủ quan, khiến cho Trung Quốc đứng trước những hậu quả kinh tế nghiêm trọng. Sức sản xuất của xã hội bị phá hoại, tính ra hàng năm thu nhập quốc dân giảm 3%. Trong đó sản lƣợng các mặt hàng công nghiệp đều giảm sút, với nông nghiệp, sản lượng lương thực năm 1960 tụt xuống 160 triệu tấn. Đứng trước những khó khăn về vấn đề lương thực, hàng năm Trung Quốc phải nhập một khối lượng khá lớn lương thực bằng 1/3 tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu.

Tình hình kinh tế nói trên đã gây ra những đảo lộn trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Trước tình hình ấy, Hội nghị Trung Ương lần thứ 9 (1 -1961) của Đản cộng sản Trung Quốc đã đề ra những biện pháp nhằm khôi phục nền kinh tế. Với công nghiệp, Trung Quốc đã giảm bớt hạng mục xây dựng, chuyển nhượng hướng phục vụ sản xuất nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng. Với công nghiệp, các công xã nhân dân đƣợc chỉnh đốn và củng cố lại. Trong lĩnh vực tổ chức và quản lý nền kinh tế, những phạm trù kinh tế với tính cách là những đòn bẩy kinh tế như giá cả, tiền lương, lợi nhuận v.v.. được sử dụng nhằm khuyến khích sản xuất và động viên người lao động. Ở các vùng nông thôn Trung Quốc, các thợ địa phương và những mảnh đất phần trăm của nông dân đã đƣợc phục hồi. Qua thực tế, kinh tế phụ của nông dân đã đƣợc chú trọng, chủ nghĩa bình quân trong phân phối đã đƣợc dẹp lại.

Với những biện pháp nói trên, đã kịp thời giải thoát những khó khăn cho nền kinh tế Trung Quốc. Sản xuất từ năm 1963 đã đi vào ổn định. Do vậy, sản lượng lương thực năm 1965 đạt 200 triệu tấn, sản lƣợng công nghiệp năm 1965 vƣợt năm 1957.

* Kinh tế thời “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (1966 -1976)

Bước vào năm 1966, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. “Đại cách mặng văn hóa vô sản” đã gây ra những biến động to lớn trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở Trung Quốc.

Bước vào thời kỳ “Đại cách mạng văn hóa vô sản” những chính sách kinh tế tả khuynh thời kỳ trước tiếp thục được áp dụng đã gây ra những xáo trộn không bình thường cho sự phát triển của nền kinh tế. Trong công nghiệp Trung Quốc tập trung đầu tƣ phát triển công nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp quân sự. Ở Trung Quốc trong

thời điểm này chi phí quân sự rất cao, thường chiếm khoảng 10% tổng sản phẩm xã hội, chiếm 40% trong tổng số ngân sách của nhà nước. Tại một viện nghiên cứu năng lượng nguyên tử của Trung Quốc, có 300 cán bộ nhưng chỉ có 20 người nghiên cứu phục vụ công nghiệp dân sự, số đông còn lại nghiên cứu phục vụ công nghiệp quân sự.

Trong nông nghiệp, các công xã nhân dân lại quay trở về với chính sách tăng cường xã hội hóa tư liệu sản xuât, sức lao động. Kinh tế phụ thuộc của gia đình nông dân bị xóa bỏ. Hoạt động tài chính nhà nước đẩy nhanh tích lũy từ nông nghiệp. Do vậy, đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn.

Những chính sách kinh tế tả khuynh nêu trên kiến tạo cho sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng, nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài. Trên thực tế qua 3 năm đỉnh cao của thời đại “Đại cách mạng văn hóa vô sản”, sản lƣợng các loại sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều giảm sút hoặc không tăng

Bảng 6.1. Kết quả sản xuất một số ngành kinh tế của Trung quốc giai đoạn 1966- 1968

Chủng loại sản phẩm Năm 1966 Năm 1967 Năm 1968

- Phân bón(triệu tấn) 9,6 8,1 9,5

- Than (tiệu tấn) 248,0 190,0 205,0

- Thép (triệu tấn) 13,0 10,0 14,0

- Xi măng (triệu tấn) 17,0 14,0 17,0

- Lương thực (tiệu tấn) 212,0 218,0 212,0

- Vải (tỉ mét) 6,7 5,5 6,0

Nhìn vào tiềm lực công nghiệp của Trung Quốc trong 1 số ngành so với 1 số nước trên thế giới là thấp kém. Nếu sản lượng tính bình quân theo đầu người thì về điện Trung Quốc, kém Mỹ 67 lần, kém Liên Xô 28 lần kém Anh 32 lần, về thép kém Liên Xô 20 lần, kém Mỹ 19 lần, kém Nhật 32 lần …

Với nông nghiệp, sản xuất ngày càng trì trệ. Nhìn vào cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp vô cùng yếu kém. Trong 4,7 triệu đội sản xuất, giá trị bình quân về vốn cố định cho mỗi đội là 10 nghìn nhân dân tệ nhƣng giá 1 mát kéo loại 55 sức ngựa trên thị trường Trung Quốc là 11 nghìn nhân dân tệ. Do vậy, với sản xuất nông nghiệp, lao động thủ công là phổ biến, nên năng suất lao động thấp. Ở Trung Quốc, 1 lao động nông nghiệp trong 1 năm sản xuất được 1 tấn lương thực, như vậy so với 1 lao động nông nghiệp của Mỹ kém hơn 100 lần. Vì vậy, thu nhập của người lao động thấp, đồng thời sản xuất hàng hóa ngũ cốc giảm xuống 15% so với trước đó (1953 - 1957) là 28%.

Sản xuất công nông nghiệp trong tình trạng nói trên, nên ngoại thương cũng giảm sút theo. Tới năm 1971 kim ngạch ngoại thương mới đạt bằng năm 1959 là 4,4 tỷ đô la.

Nhƣ vậy, những thảm họa kinh tế nói trên của Trung Quốc là hậu quả của chính sách quân sự hóa nền kinh tế, cùng những biện pháp kinh tế tả khuynh coi thường các quy luật khách quan. Do vậy, nhiều chính sách đặt ra ở Trung Quốc chƣa đúng hoàn cảnh nhƣ chế độ phân phối sản phẩm theo nhu cầu trong điều kiện sản xuất xã hội còn thấp kém. Chính xu hướng ấy đã đẻ ra thể chế tập trung quan liệu, bao cấp gây trì trệ cho nền kinh tế, mà hậu quả của nó người Trung Quốc đã gói gọn trong 3 chữ “tử - lãn- cùng”, nghĩ là hoạt động sản xuất trì trệ như chết, người lao động thì lười biếng, đất nước thì nghèo khó cùng cực. Kết cục cuối cùng là chính trị xã hội thì rối loạn, lòng dân ly tán và sản xuất giảm sút.

* Kinh tế thời kỳ “Bốn hiện đại hóa” (1976 -1978)

Năm 1976, Trung Quốc chủ trương thực hiện “Bốn hiện đại hóa”: công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và quốc phòng. Chương trình này được đưa ra khá sớm vào những năm 1964, 1975 nhƣng tới năm 1977 mới đƣợc Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ 11 và đƣợc triển khai thực hiện.

Mục tiêu “Bốn hiện đại hóa” thể hiện những tham vọng rất lớn, ví dụ trong giai đọan đầu năm 1976 -1985, sản lượng tiến tới phải đạt được thép 600 tấn, lương thực 400 triệu tấn/năm, Trung Quốc dự định tới năm 2000, sản lƣợng các loại sản phẩm công nghiệp chủ yếu sẽ xấp xỉ và đuổi kịp các nước tư bản phát triển. Trung Quốc cho rằng trong khoảng thời gian 25 năm, Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia hàng đầu của thế giới, có công nghiệp hiện đại, có quốc phòng và khoa học kỹ thuật tiên tiến.

Để thực hiện chủ trương trên, Trung Quốc cố gắng tăng nhanh tích lũy, đẩy nhanh nhập khẩu thiết bị và vay vốn của nước ngoài. Tỷ lệ tích lũy trong thu nhập quốc dân tăng lên tới 36,5%, Trung quốc tăng cường đầu tư cho xây dựng cơ bản, năm 1978 là 45 tỷ đồng nhân dân tệ, bằng 1,5 lần năm 1977. Nguồn vốn đầu tƣ của Trung Quốc chủ yếu tập trung cho khu vực sản xuất, với những ngành công nghiệp hiện đại.

Do vậy, khu vực phi sản xuất bị xem nhẹ. Từ đó những vấn đề ăn, ở, văn hóa, y tế trong tình trạng thấp kém, không đƣợc chú ý.

Nhìn vào những diễn biến kinh tế ở Trung Quốc từ năm 1976 - 1978 phản ánh sự nôn nóng, là quá trình tiếp nối chủ trương “Đại nhảy vọt” của thời gian trước. Do vậy, dẫn tới hậu quả nghiêm trọng với nền kinh tế xét trên phương diện cơ cấu và hiệu quả. Trong thời gian thực hiện “Bốn hiện đại hóa”, tỷ trọng nông nghiệp, công nghiệp trong nền kinh tế có sự thay đổi đáng chú ý. Với nông nghiệp, năm 1957 chiếm tỷ trọng 43%, thì năm 1978 hạ xuống 27% trong tổng giá trị sản lƣợng công nông nghiệp.

Cũng trong thời gian ấy, tỷ trọng công nghiệp từ 56% tăng lên 72% trong tổng giá trị sản lƣợng nông nghiệp. Tình hình nông nghiệp nhƣ vậy, nên trong thời gian 1976 - 1978 hàng năm Trung Quốc phải nhập khẩu 1 lượng lương thực và thực phẩm thường chiếm tới 20% trong tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân (Trang 85 - 92)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)