ếu mỗi ngày chỉ quan sát chuyển động giá của một hay hai cổ phiếu thì cũng dễ thôi, nhưng có lẽ bạn sẽ khó có thể bắt kịp mọi biến động của toàn bộ cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán Luân Đôn được.
N
Tuy nhiên, việc cập nhật diễn biến chung của thị trường cũng khá hữu ích, nhờ vậy bạn sẽ biết được liệu cổ phiếu của bạn có đang hoạt động tốt hơn mức trung bình, hay có thể cảnh giác trước các dấu hiệu cho thấy sự yếu kém của thị trường, vì thế, một loạt chỉ số về thị trường chứng khoán được tạo ra, với mục đích giúp bạn nắm bắt mọi biến động trong ngày của toàn bộ thị trường hoặc từng phần của thị trường.
Mỗi chỉ số được tính toán thành một con số và độ lớn của những thay đổi trong con số đó phản ánh tỷ lệ biến động của cả thị trường nói chung.
Trong một ngày giao dịch bất kỳ, sẽ có một số cổ phiếu tăng giá, một số khác lại giảm và một số thì giữ nguyên.
Các chỉ số trên thị trường chứng khoán đưa ra kết quả trung bình của những thay đổi đó, giúp cung cấp một bức tranh tổng thể. Mọi thay đổi đều được tính toán theo từng khoảnh khắc, mỗi biến động giá cổ phiếu sẽ được phản ánh lại một cách tự động.
Những thay đổi này được thể hiện trên biểu đồ, tương tự như biến động giá của từng cổ phiếu riêng lẻ.
Có những chỉ số chỉ biểu thị một số lượng công ty với quy mô cụ thể, ví dụ như chỉ xét đến các công ty lớn nhất, hoặc trung bình, hoặc nhỏ nhất, có chỉ số lại bao hàm các ngành cụ thể - như là, tất cả công ty thuộc cùng một ngành kinh doanh. Chẳng hạn, có các chỉ số riêng biệt cho từng ngành như dầu khí, công nghiệp, viễn thông và phục vụ công cộng.
Thêm vào đó, còn có chỉ số riêng của từng phân ngành.
Chẳng hạn, bên cạnh chỉ số gồm tất cả các công ty tài chính, sẽ có cả một chỉ số bao gồm các ngân hàng, một chỉ số dành cho bảo hiểm nhân thọ và một dành cho các công ty bảo hiểm chung.
TÌM HIỂU VỂ “GIA ĐÌNH” FOOTSIE (FTSE)
Trong khi chỉ số FTSE 100 - bao gồm những công ty niêm yết lớn nhất trên sàn Giao dịch Chứng khoán Luân Đôn - là
cha đẻ của một loạt các chỉ số footsie khác, tất cả footsie đều hướng tới mục đích giúp bạn thấy hướng đi thực sự của thị trường chứng khoán.
FTSE - viết tắt từ Financial Times Stock Exchange (sàn Giao dịch Thời báo Chứng khoán) - từng là một hoạt động liên doanh giữa Financial Times và sở Giao dịch Chứng khoán Luân Đôn, nhưng vào năm 2011, Financial Times đã bán lại cổ phần cho LSE.
ủy ban điều hành FTSE sẽ sắp xếp các công ty vào chỉ số thích hợp. Cứ ba tháng ủy ban này sẽ họp một lần - luôn vào một ngày thứ Tư của đầu tháng Ba, tháng sáu, tháng Chín và tháng Mười Hai.
Việc công ty nào được phân định vào chỉ số nào còn phụ thuộc vào giá cổ phiếu trong phiên đóng cửa của tối ngày hôm trước. Mọi thay đổi được công nhận sẽ có hiệu lực vào đợt cuối tuần 10 ngày sau đó. Chính vì thế, có một số công ty sẽ nằm trong một chỉ số khi đóng cửa một tuần giao dịch
và nằm trong một chỉ số khác vào đầu tuần giao dịch tiếp theo (vào khoảng ngày 20 của tháng).
FTSE 100
Chỉ số FTSE 100, thường được gọi với cái trên “trìu mến”
là Footsie, nhắm tới việc hiển thị chỉ số cổ phiếu của 100 công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất. Giá trị vốn hóa của một công ty là tổng giá trị của toàn bộ công ty trên thị trường, thường tính bằng cách lấy giá cổ phiếu hiện tại nhân với số cổ phiếu đã phát hành.
ủy ban đôi khi chậm trễ trong quá trình quyết định thành viên cho FTSE 100, nếu không thì hẳn là mỗi quý sẽ có những công ty bị thêm vào và loại ra liên tục.
90 công ty lớn nhất chắc chắn nằm trong danh mục. Mọi công ty có thứ hạng thấp hơn 110 phải bị loại. Từ đó, ủy ban sẽ cân nhắc chọn lấy 10 trong số 20 công ty còn lại.
Mối ưu tiên lớn nhất chính là mức độ ổn định. Những công ty từng thuộc nhóm thứ hạng cao nhất thường sẽ được giữ lại, kể cả nếu có một ngày họ lọt khỏi top 100. Một công ty có dấu hiệu trụ vững lâu dài sẽ được ưu ái hơn công ty có thể chỉ “một phút huy hoàng rồi chợt tối.”
Biểu đồ 3: Chỉ sô FTSE 100
Nguồn: Macrotrends
7,500 7,000 6,500 6,000 5,500 5,000
4,500
4,000
3,500
2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
Ta có thể thấy mỗi sự kiện ảnh hưởng tới chỉ số này như thê nào trong suốt 10 năm qua, kể từ khi cuốn sách này được xuất bản lần đầu tiên vào cuối năm 2007. Thị trường đạt mức cao kỷ lục với khoảng 6.700 điểm khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra và sau đó làm giảm gần nửa giá trị của chỉ số.
Việc cắt giảm lãi suất và khởi động chương trình nới lỏng định lượng của các ngân hàng trung ương ở Mỹ, Anh và ở mức độ nhỏ hơn là Liên minh châu Âu đã giúp xoay chuyển tình thế, dù vẫn tồn đọng những mối lo ngại trong suốt cuộc khủng hoảng tại khu vực đồng euro, khi các nước Hy Lạp, Ai-len, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý vẫn phải vất vả đối phó với nợ công.
Cuối cùng thì cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro dần biến mất và mức tăng trưởng kinh tê toàn cầu dần gia tăng, giúp chỉ số này đạt được những đỉnh cao mới. Thú vị là, cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ý về việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu - khiến chỉ số FTSE 100 giảm tới 500 điểm
vào sáng ngày hôm sau - chỉ có tác động trong một khoảng thời gian ngắn. Sau này nhìn lại, đó chỉ là một sự cố nhỏ.
FTSE 250
Ngay sau chỉ số FTSE 100 là FTSE 250, bao gồm cổ phiếu của 250 công ty quy mô trung bình tiếp theo. Ngoài ra, nó còn có tên gọi là chỉ số midcap (vốn hóa trung bình), bởi đây là một chỉ số đại diện cho những cổ phiếu có giá trị vốn hóa trung bình.
Lần này cũng vậy, ủy ban có toàn quyền quyết định công ty nào trong số các công ty có vị trí gần hai đầu được xếp vào các thứ hạng cuối của chỉ số. Chúng ta có thể thấy cách chỉ số midcaps biến động trong mười năm trong biểu đồ sau.
Biểu đồ 4: Chỉ số FTSE 250
20000
Hòi phục mợnh mẽ hơncoETSE 100 •
Giàm sàu toong to FTSE 100
2008 2010 2012
Nguồn: Money AM
Bi ánh hưỏng nộng hon do cuộc bo phiếu Brexit lì bi ảnh hưõng hon
bói khủng hoàng khu vục
19000 18000 17000 16000 15000 14000 13000 12000 11000 10000 9000 8000 7000 6000
2014 2016 I
Mặc dù có vẻ hai biểu đồ này có hình thức tương đối giống nhau, nhưng chỉ số FTSE 250 dễ bị các vấn đề trong nước tại Anh gây ảnh hưởng hơn, vì chỉ số này bao gồm ít công ty lớn có quy mô toàn cầu hơn. FTSE 250 đã phục hồi sau cuộc khủng hoảng tín dụng một cách mạnh mẽ hơn và ít bị ảnh hưởng nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro hơn, thê nhưng lại bị cuộc bỏ phiếu Brexit tác động nhiều hơn.
Nêu so sánh biểu đồ chỉ số FTSE 250 với biểu đồ chỉ số FTSE 100, không dễ chỉ ra chỉ số nào có hiệu suất tốt hơn.
Qua biểu đồ dưới đây với hai chỉ số có cùng một xuất phát điểm, bạn có thể dễ dàng nhận thấy điều đó. Lần này, chúng ta chỉ cần quan sát một giai đoạn kéo dài năm năm bởi trong thời kỳ này có nhiều khác biệt rõ nét hơn.
Biểu đổ 5: Chỉ số FTSE 100 so với chỉ sô FTSE 250
Nguồn: SỞ giao dịch chứng khoán Luân Đôn
Rõ ràng chỉ số FTSE 250 có hiệu suất mạnh mẽ hơn nhiều trong suốt thời kỳ này. Ngoài ra, tác động của cuộc bỏ phiếu Brexit tới chỉ số này lớn hơn đáng kể, nhờ vậy mà giữa năm 2016, khoảng cách của hai chỉ số tạm thời được thu hẹp.
Hai điều đáng ghi nhớ:
1. FTSE 250 kém ổn định hơn FTSE 100.
2. FTSE 250 có chuyển biến tích cực sau khi đạt đỉnh hoặc chạm đáy nhanh hơn FTSE 100 - dù mọi người vần thường tin vào điều ngược lại.
Nhìn chung, cổ phiếu vốn hóa trung bình có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận giao dịch hơn, phản ánh mức độ rủi ro cao hơn, cũng như tiềm năng thành công của những công ty trước đây bị ngó lơ và đánh giá thấp.
Còn một lý do khác cho sự tăng trưởng chậm chạp như vậy của chỉ số FTSE 100, ấy là vì các công ty thuộc chỉ số này thường cố gắng chi trả một mức cổ tức ổn định, do đó nguồn lợi nhuận đầu tư sẽ chủ yếu đến từ cổ tức thay vì từ các đợt tăng giá cổ phiếu.
FTSE 350
Khi kết hợp FTSE 100 và 250 lại, chúng ta được chỉ số FTSE 350 bao gồm 350 công ty lớn nhất. Đây là thành viên thường xuyên bị phớt lờ của gia đình này. Bởi xét cho
cùng, nó cũng chẳng cho bạn biết thêm điều gì mới mẻ mà bạn không thể tìm thấy trong từng phiên bản 100 và 250.
cả FTSE 100, 250 và 350 chỉ biểu thị chính xác số lượng công ty giống như cái tên của mình, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn những chỉ số đáng chú ý khác linh hoạt hơn, có khả năng tăng thêm hoặc giảm bớt tương ứng với số công ty phù hợp tiêu chí.
FTSE Small Cap và FTSE Fledgling
Chỉ số FTSE Small Cap gồm các công ty niêm yết nhỏ hơn (nhưng không hẳn là nhỏ nhất). Các công ty nhỏ nhất sẽ được xếp vào chỉ số FTSE Fledgling.
FTSE All-share
Đê’ cho cả thê giới thấy rằng Footsie là một đại gia đình hạnh phúc, chúng ta có sự hiện diện của chỉ số FTSE All- Share bao gồm mọi công ty thuộc các chỉ số khác nhau, đưa đến cái nhìn tổng quan nhất về sàn giao dịch chính.
Ngoài ra cũng có những chỉ số FTSE dành cho các lĩnh vực khác nhau như ngân hàng, xây dựng, khai thác mỏ và du lịch nghỉ dưỡng. Những chỉ số này giúp nhà đầu tư đánh giá xem công ty này kinh doanh có phát đạt hơn so với các công ty khác cùng ngành, hoặc các công ty địch thủ hay không.
Đại gia đình Footsie có một người anh họ tên là AIM All- share, và đúng như tên gọi của nó, chỉ số này bao gồm các cổ phiếu niêm yết trên thị trường AIM.
Thêm vào đó, còn có chỉ số AIM 100 bao gồm 100 cổ phiếu lớn nhất trên AIM, bao gồm cả công ty nước ngoài, và chỉ số AIM ƯK 50 bao gồm 50 cổ phiếu lớn nhất của riêng Vương Quốc Anh được niêm yết trên AIM.
TỶ TRỌNG VỐN HÓA CỦA cổ PHIÊU
Ngày nào cũng sẽ có cổ phiếu tăng, giảm, hoặc giữ nguyên giá, bất kể khi ấy toàn bộ thị trường chứng khoán đang
chuyển động lệch hẳn về chiều hướng nào. Hơn nữa, trong cùng một ngày, một số cổ phiếu có thể biến động mạnh, một số khác lại chỉ tăng hoặc giảm một, hai xu.
Vậy nên mỗi chỉ số phải tính toán mức độ biến động trung bình của toàn bộ công ty thành phần. Tỷ trọng của công ty được tính dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu, do đó biến động giá cổ phiếu của công ty lớn sẽ có ảnh hưởng mạnh hơn so với công ty nhỏ.
Điều này giúp ngăn ngừa việc giá cổ phiếu tại công ty nhỏ có biểu hiện biến động mạnh (tăng hoặc giảm nhiều) gây tác động bất cân xứng đến một chỉ số, đặc biệt là chỉ số All- Share.
Bảng dưới đây thuộc trang web chính thức của FTSE:
www.ftse.com, cho thấy tỷ trọng của mười cổ phiếu có giá trị lớn nhất cuối năm 2017. Lưu ý rằng danh mục các công ty và tỷ trọng của họ có thể thay đổi theo thời gian.
Bảng 8: Tỷ trọng của 10 công ty hàng đầu trong chỉ số FTSE
Tên công ty Lĩnh vực kinh doanh % Tỷ trọng
HSBC Ngân hàng 7,7
British American Tobacco
Thuốc lá 5,6
BP Dầu khí 4,8
Royal Dutch Shell Dầu khí 4,5
GlaxoSmithKline Dược phẩm 3,7
AstraZcnica Dược phẩm 3,3
Vodafone Viễn thòng 2,9
Unilever Hàng tiêu dùng 2,6
Lloyds Ngân hàng 2,5
Trước khi cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra, top 10 từng là sân chơi của các ngân hàng. Giờ thì chỉ còn lại hai ngân hàng, mặc dù một trong số đó vẫn đang chễm chệ ở ngôi
đầu. Giờ đây, các ngân hàng phải cạnh tranh với các công ty dầu khí và dược phẩm, vốn đang là những ngành nổi bật nhất.
Tổng tỷ trọng của mười công ty này đã chiếm đến gần 40%
chỉ số FTSE 100.