Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp xã hội

Một phần của tài liệu Pháp luật về doanh nghiệp xã hội (Trang 49 - 98)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ CẢI CÁCH PHÁP LUẬT ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp xã hội

Một trong những điều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp xã hội ra đời và tồn tại đó là một môi trường chính trị và pháp lý thuận lợi. Chính phủ phải cho phép các doanh 44 Phụ lục 03- Hộp số 4 -CSIP

45 Daryl Poon, 2011, “ The Emergence and Development of Social Enterprise Sectors”

nghiệp xã hội tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội thì doanh nghiệp xã hội mới có cơ hội để hoạt động và phát triển.

Những vấn đề mà các doanh nghiệp xã hội và các doanh nhân xã hội tìm đến cũng thường các vấn đề xã hội cơ bản, đó cũng thường xuyên là các vấn đề rất được khu vực chính phủ tìm cách giải quyết. Tuy nhiên, một tồn tại rõ ràng là có sự mất cân bằng trong quan hệ quyền lực giữa nhà nước và khu vực doanh nghiệp xã hội – trong đó, nhà nước có các lựa chọn đầu tiên trong đó vấn đề mà nhà nước chọn để giải quyết, rồi mới tới các vấn đề sẵn sàng để lại cho khu vực tư nhân. Như vậy, đối với doanh nghiệp xã hội, để phát triển, nhà nước nhất thiết phải sẵn sàng tạo điều kiện cho các doanh nhân xã hội bước vào giải quyết vấn đề, hoặc chính phủ có thể đi xa hơn bằng cách tích cực thúc đẩy, hỗ trợ, và tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội như đã chứng minh ở châu Âu.

Môi trường pháp lý cũng là yếu tố cơ bản quan trọng trong việc xuất hiện các doanh nghiệp xã hội. Môi trường pháp lý cũng là một chỉ số thường được sử dụng cho các tiềm năng kinh doanh. Các báo cáo thường niên của “ Ease of Doing Business Survey” được tiến hành bởi các nhóm Ngân hàng Thế giới xếp hạng các nước dựa trên môi trường pháp lý của họ, có tính đến các chỉ số khác nhau của môi trường pháp luật địa phương theo tiêu chí “sự dễ dàng” để bắt đầu một doanh nghiệp, được cấp tín dụng, nộp thuế, thực thi hợp đồng và đóng cửa một doanh nghiệp46. Cách tiếp cận như vậy cũng áp dụng cho bối cảnh của các doanh nghiệp xã hội, nơi mà môi trường pháp lý và quy định cần cho phép một cách dễ dàng thử nghiệm, thất bại, và cải tiến gia tăng của các doanh nghiệp xã hội. Do đó, môi trường pháp lý không nên quá ngột ngạt với quy định quá nhiều, giám sát, hoặc chính sách quá chặt chẽ, gây cản trở quá trình này. Môi trường pháp lý cũng có thể khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội như ví dụ ở nước Anh, nhưng môi trường đó phải được phải được công nhận rõ ràng trong Luật.

Không những là điều kiện để doanh nghiệp xã hội xuất hiện, môi trường pháp lý còn là nơi các chính sách từ môi trường thể chế và chính trị được hiện thực hóa thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm hỗ trợ sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp xã hội.

46 The World Bank. 2011. “Economy Rankings”.

2.2.2 Môi trường xã hội và văn hóa

Nhóm thứ hai ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp xã hội bao gồm hai điều kiện tiên quyết cho các doanh nhân xã hội xuất hiện với số lượng đủ lớn và hiệu quả là một môi trường xã hội và văn hóa thuận lợi. Doanh nhân xã hội xuất hiện dưới hai điều kiện tiên: sự hiện diện của các vấn đề kinh tế, xã hội nghiêm trọng mà họ muốn giải quyết, và đủ động lực nội bộ để có những bước tiến để giải quyết các vấn đề này. Luôn luôn có những cá nhân trong xã hội tập trung vào các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhau và có khả năng là các doanh nhân xã hội trong mọi xã hội. Vì vậy, một môi trường xã hội, tập trung sự chú ý rộng rãi về các vấn đề kinh tế, xã hội có nhiều khả năng dẫn đến sự xuất hiện của một khu vực doanh nghiệp xã hội.

Nếu như môi trường chính trị và pháp lý tạo ra các cơ hội cần thiết cho các doanh nghiệp xã hội có thể tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, thì ở khía cạnh khác, một môi trường xã hội và văn hóa thuận lợi là cần thiết để tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các doanh nhân xã hội, những người sẽ có thể tận dụng những cơ hội do môi trường này cung cấp.

Doanh nghiệp xã hội được định hướng từ sức mạnh tinh thần xã hội của các doanh nhân xã hội, và một môi trường xã hội và văn hóa thuận lợi giúp nuôi dưỡng và cho phép các doanh nhân xã hội như vậy xuất hiện. Đầu tiên, phải có những định hướng tập trung và chú trọng vào những vấn đề kinh tế, xã hội cần giải quyết để thu hút sự chú ý của các doanh nhân xã hội tiềm năng. Sự chú trọng và nhấn mạnh đó phải được thể hiện để mọi người đều phải thừa nhận doanh nghiệp xã hội như là một giải pháp khả năng mở rộng để giải quyết vấn đề. Phải tồn tại một mức độ quan trọng đáng chú ý và nhấn mạnh vào các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhau trong xã hội để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ một khu vực đang phát triển xung quanh các doanh nghiệp xã hội, không chỉ các sáng kiến cá nhân của một vài cá nhân.

Môi trường văn hóa khác với môi trường xã hội ở chỗ, văn hóa khác nhau của dân cư bao gồm những thói quen, tập quán được ăn sâu và đã là một phần của cuộc sống hàng ngày của họ trong một thời gian dài như vậy và khó thay đổi trong một thời gian ngắn như môi trường xã hội. Đặc điểm quan trọng nhất của một môi trường văn hóa có ảnh hưởng đến sự xuất hiện của doanh nghiệp xã hội là sự hiện diện và sống

động của một xã hội dân sự và các hoạt động để từ đó làm phát sinh, xuất hiện các vấn đề xã hội cần giải quyết.

2.2.3 Môi trường thể chế

Nhóm thứ ba bao gồm các điều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp xã hội mở rộng và phát triển thành công – đó là môi trường thể chế. Doanh nhân xã hội, cũng như các doanh nhân thường xuyên trong thế giới kinh doanh, đòi hỏi cần có nhiều sự hỗ trợ của các tổ chức hỗ trợ trong việc thực hiện ý tưởng của họ từ khái niệm đến thực hiện thực tế và thành công cuối cùng.

Môi trường chính trị và pháp lý cung cấp các cơ hội và không gian cho các doanh nghiệp xã hội hiện diện. Môi trường xã hội và văn hóa cung cấp các điều kiện cần thiết để tạo điều kiện cho doanh nhân xã hội hiện diện. Nhưng để thúc đẩy sự phát triển từ giai đoạn xuất hiện với một trạng thái phát triển cao thì cần phải có môi trường thể chế tốt.

Môi trường thể chế đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ nhân rộng và phát triển của các doanh nghiệp xã hội. Điều này rõ ràng nhất trong ví dụ của Hoa Kỳ, nơi có hẳn một “một hệ sinh thái” hỗ trợ của các tổ chức khoa học và cơ sở tư nhân thành lập một loạt các biện pháp và các dịch vụ hỗ trợ khác nhau: từ nghiên cứu về quản lý phi lợi nhuận, hỗ trợ công việc của các học viên và cũng cung cấp sân chơi cho các mô hình và giải pháp sáng tạo mới, phát động các cuộc thi kế hoạch kinh doanh như là nền tảng để khai thác chuyên môn cũng như các nguồn tài chính. Các tổ chức hỗ trợ này đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của một khu vực xung quanh các doanh nghiệp xã hội, thông qua việc tạo ra kênh trung gian trong việc tiếp cận các nguồn lức tài chính hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội, đồng thời các chương trình liên quan đến doanh nghiệp xã hội tại các trường đại học cũng giúp các doanh nhân xã hội tiềm năng trang bị những kiến thức và mạng lưới kết nôi để củng cố và hỗ trợ sự phát triển của khu vực có liên quan. Như vậy, một môi trường thể chế sẽ bao gồm, và không giới hạn,các tổ chức phục vụ là các trung tâm đào tạo, tư vấn, chuyên gia tài chính, và các nhà nghiên cứu.

2.3 Thực trạng và khó khăn của Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

Trước thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, khái niệm về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam rất ít khi được bàn tới. Khi nhắc đến những tổ chức tương tự như mô hình doanh nghiệp xã hội, người ta nghĩ ngay đến một tổ chức hay quỹ từ thiện nào đó. Theo khảo sát của trung tâm CSIP Việt Nam năm 2012, chúng ta có khoảng hơn 200 Doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp thông thường nhưng mục tiêu hoạt động như những doanh nghiệp xã hội. Trong đó, 68% doanh nghiệp xã hội đang nỗ lực trong mục tiêu giảm nghèo đói và 48% có mục tiêu về môi trường. Tuy nhiên con số thực tế về số lượng doanh nghiệp xã hội có thể lớn hơn con số 200 đã thống kê phía trên.

Để phân tích thực trạng về Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, tác giả xin phép đưa ra ba ví dụ trực tiếp và giàn tiếp liên quan đến hoạt động của cá nhân. Với kinh nghiệm là thành viên điều hành của một tổ chức từ thiện (Uocmoxanh.org/

Uocmoxanh.vn – hiện nay do hoạt động từ thiện của tổ chức bị thu hẹp và website không được chăm sóc cẩn nên website đã ngừng hoạt động) , bản thân tác giả đã từng cùng các thành viên đồng hành viết các dự án, thành lập doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên, do còn thiếu nhiều nguồn lực hộ trợ cũng như kinh nghiệm còn non trẻ nên gặp nhiều khó khăn thất bại.

Ví dụ thứ nhất: Công ty TNHH Ước Mơ Xanh tại Đà Nẵng47.

Được thành lập từ nguồn tiền hỗ trợ của World bank thông qua phần tài trợ 10.000 USD của dự án : “Vì một Ước mơ xanh cho người khuyết tật” năm 2006 sau khi tham dự hoạt động “Ngày sáng tạo Việt Nam năm 2006”48.

Sau khi có được nguồn tiền hộ trợ từ dự án, các thành viên của nhóm đã thành lập Công ty TNHH Ước Mơ Xanh. Ban đầu công ty tập trung vào việc nhận đào tạo việc làm cho các thanh niên khuyết tật tại khu vực Miền Trung, chủ yếu là dạy nghề photocopy, thiết kế đồ họa trên máy tính, dịch vụ in ấn. Với các bạn học viên khó khăn

47 Công Ty TNHH Sản Xuất Thương Mại & Dịch Vụ Ước Mơ Xanh –MSDN:

0400578606 Địa chỉ Lô 21 B1 Lê Văn Long- Thanh Bình - Quận Hải Châu - Đà Nẵng Tel: (0236) 3531326

48 Phụ lục 03- Hộp số 5

sẽ được bố trí hỗ trợ việc ăn ở, đi lại. Sau khi tốt nghiệp các bạn học viên sẽ được giới thiệu việc làm tại các cửa hàng/ trung tâm tin học trong khu vực thành phố Đà Nẵng.

Ngoài ra, công ty còn có một cửa hàng photocopy và in ấn tạo việc làm cho một số bạn học viên của trung tâm.

Thời gian đầu công việc khá thuận lợi một phần do dịch vu photocopy và vi tính lúc đó còn chưa nở rộ, do dự án mới nhận được hỗ trợ lớn của World Bank và được nhiều báo chí khen ngợi, nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng trong khu vực.

Thậm chí có thời điểm cùng một lúc trung tâm đào tạo số lượng học viên lên đến 200 bạn. Tuy nhiên, việc duy trì các lớp học, duy trì số lượng học viên, và tạo việc làm cho các học viên kể từ sau 2008 gặp nhiều khó khăn. Nguồn vốn tài trợ bị sử dụng gần hết mà không có vốn đầu tư thêm, doanh thu của cửa hàng photocopy ngày càng ít lại, người dẫn dắt công ty vì bận chuyện gia đình nên không còn dành nhiều thời gian cho công ty.... Cho đến năm 2013 thì công ty gần như ngưng hoạt động.

Khi xem xét những lý do thất bại của công ty TNHH Ước Mơ Xanh, tác giả xin nêu ra một vài lý do bao gồm cả lý do liên quan đến chính sách pháp luật và các nguyên nhân về điều kiện kinh tế xã hội khác như sau:

-Người đại diện quản lý công ty không có kinh nghiệm về quản lý tài chính doanh nghiệp. Ngay khi nhận được nguồn tiền hỗ trợ, công ty đã chi dùng quá nhiều vào việc mua sắm tài sản cố định ngay lúc khởi sự mà không xem xét rõ hiệu quả sử

dụng tài sản. Việc mua sắm nhiều tài sản cố định dẫn đến nguồn vốn lưu động để phát triển kinh doanh bị thu hẹp.

-Trong khi đó, doanh nghiệp không thể kêu gọi tiếp nhận vốn từ các tổ chức khác. Khi đi gặp các cơ quan ban ngành để xin các ưu đãi về vay vốn kinh doanh thì gặp rất nhiều khó khan do yêu cầu về giấy tờ, thủ tục….và hầu như không đáp ứng

được.

-Thị trường của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp do dịch vụ về photocopy, vi tính ngày càng có nhiều đơn vị tham gia vào thị trường. Trong khi đó, bản thân người dẫn dắt doanh nghiệp không phải là một “Saller” thực thụ, nên không định hướng phát triển các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách kịp thời.

-Việc đào tạo nghề cho các học viên ngoài việc nhận được hỗ trợ của nhiều giảng viên, cá nhân khác ( giảng dạy không thù lao, hỗ trợ chỗ ăn ở cho các học viên,...)

nhưng việc hỗ trợ này không có cam kết lâu dài, vì vậy, cuối cùng thì doanh nghiệp cũng phải chi dùng nguồn tiền tự có của mình để tài trợ cho các hoạt động này trong khi hoạt động kinh doanh không phát triển.

- Mặc dù dịch vụ của doanh nghiệp là dịch vụ mang tính “nhân văn”, được nhiều người ủng hộ. Nhưng sự ủng hộ chỉ là thời gian đầu khi còn được nhiều báo chí viết và nhắc tới. Lâu dần, không ai còn nhớ nhiều về dự án nữa. Khi đã tham gia vào hoạt động kinh tế, để canh tranh và tồn tại thì sản phẩm dịch vụ vẫn phải tuân theo quy luật của thị trường. Sản phẩm của công ty tạo ra bởi các bạn học viên còn nhiều hạn chế, không đa dạng, giá thành cao, thậm chí xét về mặt dịch vụ sẽ thua kém nhiều đối thủ khác nên không cạnh tranh được với đối thủ.

Ví dụ thứ hai : Công ty cổ phần Phú Hải Sơn49 – VinaEnter

Khởi nguồn từ cuộc thi ý tưởng kinh doanh sáng tạo của Trường đại học Bách Khoa Đà Nẵng. Với ý tưởng kinh doanh “bán vé xe khách qua mạng internet” – là dịch vụ khá mới mẻ tại Việt Nam vào năm 2007. Từ ý tưởng kinh doanh trên, tác giả đã nhận lời hỗ trợ bạn sinh viên khuyết tật Trần Văn Sơn viết hồ sơ dự án để tham gia cuộc thi- khi đó bản thân tác giả cũng đang là sinh viên ngành tài chính doanh nghiệp tại trường đại học Kinh tế, đồng thời chính tác giả cũng là người thuyết trình về dự án trước hội đồng giám khảo. Dự án sau đó đã lọt vào vòng chung kết và đạt giải nhất ý tưởng kinh doanh sáng tạo. Ngay sau đó, được sự hỗ trợ của các thành viên ban tổ chức và các tổ chức khác, bạn Trần Văn Sơn đã thành lập công ty cổ phần Phú Hải Sơn – với dịch vụ chính là tạo ra mang lưới kinh doanh vé xe khách qua mạng, nhằm hỗ trợ hành khách và nhà xe trong việc đặt mua và xuất vé nhằm giảm tải tình trạng xe dù, xe cóc, ép giá hành khách. Ban đầu, công ty theo đuổi mục tiêu là một doanh nghiệp phi lợi nhuận – như đúng bản chất của doanh nghiệp xã hội theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014. Tuy vậy, sau một thời gian kinh doanh, mảng dịch vu vé xe khách không đạt hiệu quả như kỳ vọng và ngày càng thu hẹp lại. Sau này, để duy trì hoạt động, công 49 CÔNG TY CỔ PHẦN PHÚ HẢI SƠN- MSDN: 0400935287

Địa chỉ: 48 A Nam Cao, Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

ty đã chuyển sang hướng đào tạo nghề liên quan đến công nghệ thông tin cho các học viên. Từ một mô hình kinh doanh hướng tới việc giải quyết vấn đề về “xe dù, bến cóc”, doanh nghiệp chuyển hẳn sang hướng kinh doanh về đào tạo. Từ năm 2014, Công ty CP Phú Hải Sơn đổi tên thành Công ty TNHH Giải pháp công nghệ VinaENTER chuyên dịch vụ đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) và thiết kế phần mềm. Đương nhiên công ty VinaEnter không còn theo đuổi mục tiêu phi lợi nhuận.

Nguyên nhân thất bại của công ty Phú Hải Sơn không phải vấn đề về vốn hoạt động, mà chính là kinh nghiệm và tư duy điều hành doanh nghiệp còn thiếu và vội vàng. Mặc dù là giải pháp, ý tưởng tốt vì cho đến nay, một doanh nghiệp đi sau về ý tưởng này là “Vexere.com” lại đang hoạt động rất hiệu quả và mang lại nhiều giá trị xã hội thiết thực.

- Thêm vào đó, việc lựa chọn mục tiêu cam kết đi theo con đường doanh nghiệp xã hội, nhưng chưa hiểu hết bối cảnh, những trở ngại và phạm vi của mục tiêu. Đồng thời, tại thời điểm đó cũng không có cơ chế nào kiểm soát cam kết thực hiện mục tiêu xã hội của doanh nghiệp dẫn đến các nhà đầu tư sao nhãng với mục tiêu ban đầu.

- Các doanh nhân trẻ với tấm lòng nhiệt huyết cao nhưng lại non trẻ về kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp, tư duy quản trị và định hướng thị trường còn yếu. Vào thời điểm năm 2008-2009, đa số những người sử dụng internet đều là các bạn trẻ, số lượng những người lớn tuổi và các bạn ở nông thôn chưa biết sử dụng internet là phổ biến nên khả năng tiếp cận dịch vụ rất hạn chế mặc dù là dịch vụ tốt. Tại thời điểm đó, việc thuyết phục các nhà xe thay đổi tư duy phục vụ và cách thức bán vé, đón khách cũng khó khăn hơn hiện tại. Ngược lại, hiện nay Smart Fone trở nên phổ biến, công nghệ thông tin có nhiều ứng dụng tương đối dễ dàng nên khả năng tiếp cận dịch vụ của khách hàng tăng lên rõ rệt.

Ví dụ thứ ba: Dự án cà phê sách từ thiện Ylife Coffee.

Cuối năm 2007, các thành viên nhóm từ thiện Ước Mơ Xanh tại TP HCM nhận được một khoản viên trợ từ các thành viên ở nước ngoài. Sau đó đại diện các thành

Một phần của tài liệu Pháp luật về doanh nghiệp xã hội (Trang 49 - 98)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(98 trang)
w