Các Servlet thường được sử dụng để thực hiện các xử lý của ứng dụng và tạo các dữ liệu dạng nhị phân. Servlet thường được sử dụng cho các mục đích sau:
• Dùng để cài đặt các dịch vụ: Servlet thường không được sử dụng để hiển thị thông tin trừ các thông tin dạng nhị phân. Thay vào đó, Servlet được dùng để cung cấp các dịch vụ của ứng dụng. Servlet có thể thực hiện mọi dịch vụ mà ứng dụng có thể cung cấp được như tạo khuôn mẫu, bảo mật, cá thể hóa, điều khiển ứne dụng và sau đó lựa chọn thành phần thực hiện hiển thị và nó chuyển yêu cầu hiển thị thông tin cho thành phần này để thực hiện hiển thị.
• Dùng làm trình điểu khiển: Servlet là công nghệ thường được sử dụng cho việc cài đặt các trình điều khiển trong bộ chứa Web. Các trình điều khiển này thực hiện việc xác định cách thức xử lý yêu cầu của người sử dụng và lựa chọn thành phần hiển thị thông tin tương ứng. Trình điều khiển kích hoạt các
xử lý của ứng dụng và thực hiện các quyết định. Tất cả các công việc này đều có tính chất thủ tục. Vì vậy, việc sử dụng các Servlet là hết sức phù hợp.
• Dùng để tạo các d ữ liệu dạng nhị ph â n : Các dữ liệu nhị phân được tạo bởi Servlet thì tốt hơn. Các Servlet muốn sinh ra các dừ liệu nhị phân thì phải đặt kiểu nội dung thông tin là kiểu MIME. Servlet sẽ thực hiện viết các dừ liệu dạng nhị phân ra đối tượng OutputStream được lấy từ ServletRequest. Mỗi Servlet có thể viết dừ liệu ra OutputStream hoặc PrintWriter, nhưng không thể viết ra cả 2 đổi tượng này đồns, thời. JSP không thể tạo được dừ liệu dạng nhị phân. [4]
3.4.2 Các trường hợp sử dụng JSP
JSP thườne được sử dụng đế tạo các kết quả dạng văn bản có định dạng hoặc không theo khuôn dạng nào cả. Các thành phần này được sử dụng trong các trường họp mà giá trị của dữ liệu thay đổi giữa các yêu cầu khác nhau nhưng cấu trúc của dữ liệu thi không thay đổi hoặc nếu có thay đổi thì thay đổi rất ít. Chính vì vậy, JSP thường được sử dụng trong các trường hợp sau:
• Dùng để hiển thị d ữ liệu: JSP được sử dụng có hiệu quả nhất là hiển thị các dữ liệu dạng văn bản có cấu trúc. Các dữ liệu này thường dưới dạng HTML, XHTML và DHTML. Các thông tin được thể hiện ở đây có một phần là thông tin tĩnh với một số thành phần được thay thế bởi giá trị động tại thời điểm thực hiện.
• Dùng để sinh các d ữ liệu dạng XML: JSP là công nghệ rất tốt để tạo sinh các dữ liệu XML có cấu trúc cố định. JSP được sử dụng để sinh ra các thông điệp XML theo các định dạng chuẩn và các giá trị thuộc tính thay đổi theo các yêu cầu được gửi đến. Các thông điệp XML có thể được tạo ra từ các khuôn mẫu hay thực hiện việc ghép nối nhiều thông điệp nhỏ thành một thông điệp lớn hơn.
- 7 4 -
• Dùng đế sinh các d ữ liệu văn bản không có cấu trúc: JSP không những có thể dùng để sinh các dừ liệu văn bản có cấu trúc mà còn có the sinh ra các văn bản không có cấu trúc như các văn bản dạn2 ASCII, độ rộng cột cố định hay sử dụng các ký tự ngăn cách. Một trong các ví dụ là sử dụng JSP để tạo các thư điện tử trả lời cho khách hàng.
Tóm lại, trong bộ chứa Web có hai loại thành phần khác nhau là JSP và Servlet, v ề cơ bản, JSP có thế được coi là một loại Servlet đặc biệt. Tuy vậy, mồi loại thành phần này đều có các ưu và nhược điểm khác nhau. Thành phần JSP thường được sử dụng cho việc hiển thị thông tin. Thành phần Servlet thường được sử dụng trong các công việc không đòi hỏi việc hiển thị thông tin. Ví dụ như thực hiện việc xử lý dừ liệu, điều khiển tiến trình xử lý, lựa chọn thành phần hiển thị. [4]