Trong những năm gần đây, mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức lớn, nhưng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đất nước ta vẫn tiếp tục phát triển và thu được nhiểu thành tựu quan trọng. Nền kinh tế vản được duy trì với mức tăng trường khá, tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh vẫn được giữ vững, trật tự xã hội ổn định, đời sống nhàn dân tiếp tục được cải thiện, nâng cao. Tuy vậy, ben cạnh những mặt chuyển biến tích cực thì tình hình tội phạm nói chung và tội che giấu tội phạm nói nẻng vẫn có những diễn biến phức tạp; để đánh giá được tình hình tội phạm này trong nhũtig năm qua trên phạm vi cả nước một cách toàn diện và nghiẻm túc, thì cần phải tiến hành nghiên cứu, xem xét đầy đủ về tình trạng và động thái của tình hình tội phạm cũng như nhân thàn người phạm tội dựa trên những yếu tố như: dữ liệu về tội phạm khổng được phát hiện (tội phạm ẩn), số ỉượng các vụ án bị đình chỉ trong quá trình điểu tra, truy tố, xét xử, số lượng tội phạm đã được đưa ra xét xử, sự vận động, thay đổi của thực trạng tình hình tội phạm, vể giới tính,độ tuổi, nghề nghiệp người phạm tội này...
Nếu chỉ căn cứ vào số liệu tội phạm đã được phát hiện và xử lý sẽ không thấy hết được tính phức tạp của tội phạm, do đó sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả của công tác phòng ngừa không được chính xác do chủ yếu dựa trên những số liệu khả quan, tăng lên nhiều lần so với kết quả thực tế. Tại Để tài khoa học KX 04-14: Tội phạm ở Việt Nam- Thực trạng, nguyên nhân và gidi pháp của Tổng cục cảnh sát nhân dân do TS. Lẽ Thế Tiệm chủ biên, trên cơ sở căn cứ vào những số liệu khảo sát điểu tra, đã đưa ra những số liệu tỷ lộ frfiàt hiện tội phạm nói chung trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội của đất nước những năm qua còn rất thấp. Qua khảo sát điểu tra, hầu hết những người được hỏi đểu
44
cho ràng số liệu tội phạm đã được các cơ quan tư pháp phát hiện, xứ lý còn cách rất xa so với thực tế tội phạm xảy ra, như lội tham ô mới chí phát hiện và thống kẻ được khoảng từ 10 -20%, tội cố ý làm trái và hối lộ được phát hiện từ 5- 10%.... Qua kết quả điều tra xã hội học bàng phiếu hỏi đối với 4.600 hộ đại diện cho khoảng 20 nghìn người ở một số địa phương thuộc Hà Nội, Hải Hưng thấy 55,8% các vụ án xảy ra đã không được báo cho cơ quan Công an. Trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, số lượng tội phạm ẩn cũng còn nhiều ở các mức độ khác nhau, trong số những vụ không được quần chúng nhân dân báo cho cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát chủ yếu là tội trộm cắp tài sản chiếm tới 75%, tội cố ý gày thương tích chiếm 19.6%...bởi các lý do: trộm cắp tài sản giá trị không lớn, không báo do ngại tiếp xúc với cơ quan Công an hoặc sợ thủ tục phiền hà, do không tin tưởng cơ quan tố tụng có thể tìm ra tội phạm, sợ bị trả thù hoặc tự giải quyết…[3,tr. 84,96,97].
Như vậy, tình trạng tội phạm ẩn nói chung còn rất lớn, cũng có nghĩa là số tội phạm che giấu tội phạm xảy ra hàng năm mà chưa được phát hiện, xử lý trong đó cũng là không nhỏ, vì tội che giấu tội phạm chỉ xuất hiện khi trước nó đã có một tội phạm khác được thực hiện, đã xảy ra nhằm chứa chấp, che giấu tội phạm đã được thực hiện, xảy ra đó. Do vậy, nếu những tội phạm xảy ra trước đó mà không bị phát hiện, xử lý thì tội phạm che giấu những tội phạm đó cũng sẽ ẩn theo, không bị phát hiện, xử lý. Điều này đã làm tâng thêm tính phức tạp, gây khó khán, trở ngại cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội che giấu tội phạm nói riêng của nước ta trong tình hình hiện nay, đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện một chiến lược đồng bộ, quan tâm đầy đủ vể mọi mặt, mọi phương diện, huy động được đông đảo nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này thì mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.
Theo kết quả khảo sát và điều tra xã hội học bằng phiếu hòi của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì 100% những người được hỏi là cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Kiểm sát, Tòa án) đểu khẳng định số lượng tội pham theo thống kê hiện nay đã được điểu tra, xử lý còn có một khoảng cách rất xa so
với thực tế những vụ phạm tội xảy ra [3,tr. 14]. Hơn nữa, công tác thống kê tội phạm liên ngành mới được triển khai trong những nảm gần đây,nên còn có nhiéu hạn chế, bất cập, còn nhiêu sai số, do vậy các số liệu thống kẻ có được chi mang tính tương đối nhưng do chưa có những số liệu chính xác hơn, chúng ta tạm chấp nhận nó.
2.1.1. Tình trạng, động thái của tội che giấu tội phạm
Vể tình trạng và động thái của tội che giấu tội phạm trong những năm gần đây cũng cho thấy những diễn biến còn tương đối phức tạp. Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhản dân tối cao từ năm 1997 đến năm 2005,tình hình tội che giấu tội phạm đã được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử cụ thể như sau:
- Năm 1997、số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện khởi tố, điểu tra gồm 4 vụ, 5 bị can; Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ 1 vụ, 2 bị can, còn lại truy tố 3 vụ, 3 bị can. Cộng cả số vụ án, bị can giải quyết từ năm trước chưa xét xử, Tỏa án đã xét xử sơ thẩm tổng số 5 vụ, 15 bị cáo về tội che giấu tội phạm.
- Năm 1998, số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện khởi tố, điều tra gồm 4 vụ, 6 bị can; Cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ Ivụ, 1 bị can; số còn lại truy tố ra Tòa án xét xử. Cộng cả với số án chưa xét xử của những năm trước, Tòa án đã tiến hành xét xử sơ thẩm tổng số5 vụ với 14 bị cáo vé tội che giấu tội phạm.
- Năm /999,số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện, khởi tố, điểu tra gồm 6 vụ, 7 bị can; cộng với số vụ chưa giải quyết từ những năm trước, Viện kiểm sát đã thụ lý 11 vụ, 23 bị can, trong đó ra quyết định đình chỉ 6 vụ, 12 bị can; truy tố 5 vụ, 11 bị can. Tòa án đã tiến hành xét xử sơ thẩm 3 vụ với 8 bị cáo vé tội che giấu tội phạm.
- Năm 2000, số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện, khởi tố, điều tra gồm 10 vụ, 12 bị can; Cơ quan điều tra đình chỉ 1 bị can; Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ đối với 3 vụ, 3 bị can, truy tố 6 vụ, 6 bị cáo; Tòa án đã
46
liến hành xé í xử sơ ĩ hẩm 5 vụ vcri 8 bị cáo về tội che giấu tội phạm.
- Nám 2001, vụ số phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện, khởi tố, điểu ira gồm 2 vụ, 3 bị can; cộng với số vụ chưa giải quyết từ những năm trước, Viện Idem sát đă thụ lý 4 vụ, 6 bị can, trong đó ra quyết định đình chi l bị can;
truy tố 4 vụ,4 bị can. Cộng cả với số án chưa xét xử của những năm trước, Tòa án đã tiến hành xét xứ sơ thẩm tổng số 13 vụ với 13 bị cáo vé tội che giấu tội phạm.
• Năm 2002, số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện, khởi tố, điều tra gổm 1 vụ, 1 bị can; Viện kiểm sát đã ra quyết định đình chỉ 1 vụ, 1 bị
can. Cộng cả với số án chưa xét xử của những nảm trước, Tòa án đã thụ ỉý 7 vụ, 7 bị can, trong đó đã tiến hành xét xứ sơ thẩm tổng số 6 vụ với 6 bị cáo vể tội che giấu tội phạm, hoàn lại Viện kiểm sát 1 vụ, 1 bị can.
- Năm 2003、số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện, khởi tố, điểu tra gổm 2 vụ, 9 bị can. Cộng cả số vụ chưa giải quyết từ những năm trước, Viện kiểm sát đình chỉ 1 vụ, 2 bị can, còn lại truy tố 6 vụ, 14 bị can. Cộng cả với số án chưa xét xử của những năm trước, Tòa án đã thụ lý trong năm này tổng cộng 53 vụ, 34 bị cáo vể tội che giấu tội phạm; trong đó đã tiến hành xét xử sơ thẩm 48 VỊ/, 29 bị cáo về tội che giấu tội phạm , hoàn lại V iện kiểm sát 3 vụ, 4 bị can, còn tổn tại chưa xét xử 2 vụ, 1 bị can.
Theo số liệu trong nảm này cho thấy số vụ án nhiều hơn số bị can, bị cáo điểu này có thể lý giải bởi các trường hợp một bị can, bị cáo có thể phạm tội che giấu tội phạm trong nhiểu vụ án khác nhau.
- Năm 2004,số vụ phạm tội che giấu tội phạm được phát hiện, khởi tố, điểu tra gổm 2 vụ, 2 bị can; Cơ quan điều tra đình chỉ 1 vụ, 1 bị can. Cộng cả số vụ chưa giải quyết từ những năm trước, Viện kiểm sát truy tố 1 vụ, 5 bị can.
Cộng cả với số án chưa xét xử của những năm trước, Tòa án trong năm này đã thụ lý tổng cộng 9 vụ, 15 bị cáo về tội che giấu tội phạm; trong đó đã tiến hành xét xử sơ thẩm 8 vụt I I bị cáo về tội che giấu tội phạm, hòan lại Viện kiểm sát 1 vụ, 4 bị cáo.
47
- Và năm 2005, Tòa án thụ lý 9 vụ, 10 bị cáo về tội che giấu tội phạm, trong đó đã iiến hành xét xử sơ thẩm 8 vụ. 9 bị cáo, chuyển hổ sơ vụ án 1 vụ, 1 bị can.
( Nguồn số liệu thống kê điều ira, truy tố các năm lừ ỉ 997-2004 và xét xử sơ thẩm các năm từ 1997-2000 do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp, Tòa án nhân dân tối cao không có những số liệu này. Số liệu thống kê xét xứ sơ thẩm các năm íừ 2001-2005 do Tỏa án nhân dán tôi cao cunẹ cấp)
Về tình hình tổng số các loại tội phạm đã phát hiện, xử lý được Tòa án thụ lý và tiến hành xét xử sơ thẩm của từng năm từ năm 1997 đến nãm 2005, Iheo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể là:
- Năm ỉ 997, đã thụ lý 40022 vụ, 81692 bị cáo; troníị dó dã tiến hành xéỉ xử sơ thẩm 32364 vụ, 61962 bị cáo\ đình chỉ xét xử 506 vụ, 1087 bị cáo; hòan lại Viện kiểm sát 4115 vụ, 14542 bị cáo. Còn lại 3037 vụ, 4101 bị cáo chưa xử lý-
- Năm ỉ 998, đã thụ lý 45780 vụ, 75656 bị cáo; trong đó dã tiến liành xét xử sơ thẩm 38614 vụ, 62136 bị cáo; đình chỉ xét xử 544 vụ, 834 bị cáo; hoàn lại Viện kiểm sát 4537 vụ, 8711 bị cáo. Còn lại 2085 vụ, 3975 bị cáo chưa xử lý.
- Năm ỉ 999, đã thụ lý 58094 vụ, 91508 bị cáo; trong đó dã tiến hành xét xử sơ thẩm 49729 vụ, 76302 bị cáo', đình chỉ xét xử 440 vụ, 706 bị cáo; hoàn lại Viện kiểm sát 4447 vụ, 8392 bị cáo. Còn lại 3478 vụ, 6108 bị cáo chưa xứ lý.
- Năm 2000, đã thụ lý 48875 vụ, 74261 bị cáo; trong đỏ đã tiến hành xéí xử sơ thẩm 41409 vụ, 6149Ỉ bị cáo; đình chỉ xét xử 762 vụ, 1185 bị cáo; hoàn lại Viện kiểm sát 4200 vụ, 7737 bị cáo. Còn lại 2504 vụ, 3848 bị cáo chưa xử lý.
- Năm 2001, đã thụ lý 48365 vụ, 70290 bị cáo; trong đố đã tiến hành xét xử sơ thẩm 4ỉ 265 vụ, 58221 bị cáo; đình chỉ xét xử 462 vụ, 604 bị cáo; hoàn lại Viện kiểm sát 4124 vụ, 7435 bị cáo. Còn lại 2514 vụ, 4030 bị cáo chưa xử lý.
- Năm 2002, đã thụ lý 51350 vụ. 74265 bị cáo, írong âó cỉã liến hành xét xử sơ Ị hẩm 430Ị 2 vụ, 61256 bị cáo; đ ìn h CỈ1Ỉ x é t x ử 3 5 0 v ụ , 4 9 2 bị c á o ; h o à n lại
Viên kiểm sát 5225 vụ, 8108 bị cáo. Còn lại 2763 vụ, 4409 bị cáo chưa xử lý.
8
- Năm 2003y đã thụ ỉý 53903 vụ, 83649 bị cáo; trong dó đã tiến hành xét xử sơ thấm 45949 vụ, 68365 bị cáo\ đình chỉ xét xử 405 vụ, 554 bị cáo; hoàn lại Viện kiểm sát 3755 vụ, 7568 bị cáo. Còn lại 3794 vụ, 7162 bị cáo chưa xử lý.
- Năm 2004, đã thụ lý 56546 vụ, 92290 bị cáo; trong đó đã tiến hành xét xử sơ thẩm 48287 vụy 75453 bị cáo; đ ìn h c h ỉ x é t x ử 3 7 0 v ụ , 4 9 9 b ị c á o ; h o à n lạ i
Viện kiểm sát 4000 vụ, 8776 bị cáo. Còn lại 3889 vụ, 7562 bị cáo chưa xử lý.
- Và năm 2005,đã thụ lý 58121 vụ, 96221 bị cáo; trong đố đã tiến hành xét xử sơ thẩm 49935 vụ, 79318 bị cảo.
Xem xét mối tương quan trên cơ sở so sánh tỉ ỉệ giữa số vụ và bị cáo phạm tội che giấu tội phạm với tổng số vụ và bị cáo về các tội phạm đưa ra xét xử hàng năm từ nãm 1997 đến năm 2005, cho thấy mối tương quan đó được thể hiện như sau:
- Năm 1997\ số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 5 vụ, chiếm 5/32364 ô 0,015 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong tũan quốc. Số bị cỏo phạm tội che giấu tội phạm đó đưa ra xột xử là 15 bị cỏo, chiếm 15/61962 ô 0,024% tổng số bị cáo vể các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm,
- Năm ỉ 998: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 5 vụ, chiếm 5/38614 ô 0,012 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cỏo phạm tội che giấu tội phạm đã đưa ra xét xử là 14 bị cáo,chiếm 14/62136 ^ 0,022% tổng số bị cáo về các tội phạm đă đưa ra xét xử trong năm. Như vậy, năm này tỉ lệ số vụ và số bị cáo phạm tội đều giảm so với năm 1997.
- Năm 1999: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 3 vụ, chiếm 3/49729 ô 0,006 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cỏo phạm tội che giấu tội phạm đó đưa ra xột xử là 8 bị cỏo, chiếm 8/76302 ằ 0,01%
tổng số bị cáo vể các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm . N âm này, tỉ lệ số vụ và số bị cáo phạm tội tiếp tục giảm so với các năm tnrớc 1997,1998.
- Năm 2000: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 5 vụ, chiếm 5/41409 ô 0,012 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cỏo phạm tội che giấu tội phạm đó đưa ra xột xử là 8 bị cỏo, chiếm 8/61491 ô
49
0,013% tỏng số bị cỏo vộ cỏc tội phạm đă đưa ra xột xử trong nỏm. Nỏm lứyằ
táng mạnh vé ti lệ số vụ và tăng nhẹ vé tỉ lệ số bị cáo phạm tội so với năm 1999.
- Năm 200ỉ: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 13 vụ, chiếm 13/41265 ^ 0,031 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cáo phạm tội che giấu tội phạm đã đưa ra xét xử là 13 bị cáo, chiếm 13/58221
^ 0,022% tổng số bị cáo về các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm. Năm này, tiếp tục tãng cả tỉ lệ số vụ lẫn số bị cáo phạm tội so với nâm 2000.
• Năm 2002: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 6 vụ, chiếm 6/43012 ^ 0,013 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cáo
phạm tội che giấu tội phạm đó đưa ra xột xử là 6 bị cỏo, chiếm 6/61256 ô 0,009% tổng số bị cáo vể các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm. Năm này, lại giảm mạnh tỉ lệ vể số vụ và bị cáo phạm tội so với năm 2001.
- Năm 2003: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 48 vụ, chiếm 48/45949 ô 0,104 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cáo phạm tội che giấu tội phạm đã đưa ra xét xử là 29 bị cáo, chiếm 29/68365
^ 0,042% tổng số bị cáo về các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm. Như vậy, tỉ lệ số vụ và số bị cáo trong năm này đều tảng mạnh, đột biến so với nảm 2002 và các năm trước đó.
- Năm 2004: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 8 vụ, chiếm 8/48287 ô 0,0165 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cáo phạm tội che giấu tội phạm đã đưa ra xét xử là 11 bị cáo, chiếm i 1/75453 ^ 0,014% tổng số bị cáo về các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm. Nảm này, tỉ lệ số vụ và bị cáo phạm tội đểu giảm xuống so với năm 2003 nhưng vẫn là cao so với năm 2002 và các năm trước đó.
-Năm 2005: số vụ phạm tội che giấu tội phạm đã tiến hành xét xử là 8 vụ, chiếm 8/49935 ô 0,016 % tổng số vụ phạm tội xảy ra trong toàn quốc. Số bị cỏo phạm tội che giấu tội phạm đó đưa ra xột xử là 9 bị cỏo, chiếm 9/79318 ô 0,011% tổng số bị cáo về các tội phạm đã đưa ra xét xử trong năm. Năm này, giảm không đáng kể tỉ lệ số vụ và bị cáo phạm tội này so với năm 2004 và vẫn ở
50