Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SV
2.2. Thực trạng về hoạt động tự học của SV khối ngành Kinh tế, trường Đại học Hoa Lư
2.2.1. Thực trạng về hoạt động tự học của SV khối ngành Kinh tế, trường Đại học Hoa Lư
2.2.1.2. Thực trạng thời gian tự học của SV
Học tập ở bậc đại học yêu cầu người học nâng cao tính tự giác trong học tập.
Người học cần biết phân bổ, sắp xếp thời gian học tập tối thiểu đảm bảo đủ cho từng môn học. Việc nâng cao tính tự giác trong học tập là một yếu tố quan trọng giúp SV có thể đạt được kết quả học tập tốt, đáp ứng yêu cầu CTĐT. Để làm được điều này,
0,00% 3,16%
33,99%
62,85%
Hình 2.1. Nhận thức tầm quan trọng của việc tự học
Không quan trọng Ít quan trọng Bình thường Quan trọng Rất quan trọng
19
SV cần biết cách phân bổ, sắp xếp thời gian học tập một cách hợp lý và hiệu quả, đảm bảo có đủ thời gian học cho mỗi môn học, đặc biệt là thời gian tự học.
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra khảo sát
Theo khảo sát, SV nữ có tỷ lệ tự học cao nhất trong khoảng từ 1-2 giờ/ ngày, chiếm 39%, SV nam chủ yếu chỉ dành dưới 2 giờ cho việc tự học, chiếm 9%. Điều này phản ánh sự khác biệt trong thói quen và phương pháp học tập giữa các nhóm SV, cũng như sự cần thiết phải có các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ các SV có thói quen học tập chưa tốt.
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra khảo sát Xét về thời gian tự học theo các năm học thì SV năm 1 có tỷ lệ tự học khá thấp, đặc biệt là trong khoảng thời gian dưới 1 giờ và từ 1-2 giờ lần lượt chiếm 7,11%
và 13,83%. Nguyên nhân có thể do SV năm nhất còn chưa quen với môi trường đại
13,83%
44,27%
29,25%
9,88% 2,77%
Hình 2.2. Thời gian tự học
< 1 giờ 1-2 giờ 2-3 giờ 3-4 giờ > 4 giờ
10%
39%
29%
10%
3%
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
40%
45%
< 1 giờ 1-2 giờ 2-3 giờ 3-4 giờ > 4 giờ
Hình 2.3: Thời gian tự học theo giới tính
Nữ Nam
20
học, chưa có phương pháp tự học và chưa biết cách quản lý thời gian học tập một cách hiệu quả. Năm 2 tỷ lệ SV dành thời gian tự học dưới 1 giờ giảm xuống còn 3,16%, tuy nhiên tỷ lệ SV tự học từ 1-2 giờ lại tăng lên 21,34%. Đây có thể là giai đoạn SV bắt đầu nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc học ngoài giờ lên lớp.
Mặc dù vậy, tỷ lệ SV tự học dưới 1 giờ vẫn còn tồn tại và cần được cải thiện. Năm 3 thời gian tự học của có sự phân bổ đều hơn. Tỷ lệ SV dành từ 1-2 giờ giảm xuống còn 6,32%, trong khi đó nhóm tự học 2-3 giờ chiếm tỷ lệ lớn nhất (7,91%). Điều này cho thấy SV năm 3 đã bắt đầu có sự tự giác trong việc phân bổ thời gian học. SV năm cuối có sự phân bố thời gian tự học khá đa dạng, với một số SV dành 2-3 giờ (9,49%) hoặc hơn 4 giờ (1,58%). Tỷ lệ SV tự học dưới 1 giờ giảm xuống chỉ còn 0,79%, cho thấy SV năm cuối đã bắt đầu có ý thức về việc học và nghiên cứu chuyên sâu hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ SV dành trên 4 giờ cho việc tự học vẫn còn thấp.
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra khảo sát
Theo CTĐT của các trường đại học, thời gian tự học mỗi ngày của SV được quy định trung bình là 5-6 giờ, tùy thuộc vào số tín chỉ và yêu cầu của từng kỳ học.
Thời gian tự học này là cần thiết để SV có thể tiếp thu, củng cố và mở rộng kiến thức đã học trên lớp, đồng thời hoàn thành các bài tập, nghiên cứu chuyên sâu, và chuẩn bị cho các kỳ thi. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy, thời gian tự học thực tế của
18 7% 35 14% 18
8 3% 54 21% 12
7 3% 16 6% 20
2 1% 7 3% 24
< 1 G I Ờ 1 -2 G I Ờ 2 -3 G I Ờ
Hình 2.4: Thời gian tự học theo năm học
Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4
21
SV hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu này. Việc SV chỉ dành ít thời gian cho tự học sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kiến thức, thiếu sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho các kỳ thi, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập.
Nếu không dành đủ thời gian cho việc tự học, SV sẽ khó có thể tiếp cận, hiểu sâu và áp dụng kiến thức một cách hiệu quả. Thực tế, việc tự học không chỉ giúp SV củng cố kiến thức mà còn giúp phát triển các kỹ năng tự nghiên cứu, tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề, những yếu tố quan trọng trong quá trình học tập và phát triển nghề nghiệp sau này. Vì vậy, để nâng cao kết quả học tập, SV cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tự học và có kế hoạch phân bổ thời gian hợp lý cho việc học tập.