Nghị luận xã hội

Một phần của tài liệu ĐỀ đọc HIỂU NGOÀI CT văn 9 (Trang 130 - 141)

a. Đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn nghị luận: Mở đoạn giới thiệu vấn đề nghị luận; Thân đoạn làm rõ vấn đề nghị luận, triển khai được luận điểm; Kết đoạn khái quát được nội dung nghị luận.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận

c.Triển khai vấn đề nghị luận. Có thể trình bày theo hướng sau:

- Giới thiệu vấn đề.

- Giải thích: Sống có trách nhiệm là lối sống lành mạnh, làm tròn bổn phận, nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với bản thân và những người xung quanh, biết làm chủ được hành động, suy nghĩ và hành vi của mình.

- Biểu hiện: Không để bản thân mình sa vào các tệ nạn xã hội, biết giữ gìn sức khỏe, biết cách học tập, đổi mới và tích cực phấn đấu. Biết cách hoàn thiện bản thân mình trở nên tốt đẹp. Có trách nhiệm đối với mọi người và xã hội: biết quan tâm đến người khác, biết bảo vệ môi trường, ngăn chặn những hành vi xấu xa, … Để góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

- Mở rộng: Phê phán những người chỉ vì lợi ích cá nhân mà rũ bỏ trách nhiệm của bản thân họ đối với công việc, xã hội.

- Bài học: Sống có trách nhiệm thực sự rất cần thiết đối với mỗi người. Nó sẽ giúp ích cho bản thân, gia đình, xã hội không cần quá lo lắng về tương lai, đạo đức và nhân phẩm con người nếu họ biết sống đúng, có trách nhiệm.

d.Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo, thể hiện những suy nghĩ, kiến giải mới mẻ về vấn đề

e.Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, dùng từ, đặt câu.

ĐỀ 78:

Đối với giới trẻ ngày nay, việc sử dụng thường xuyên chiếc điện thoại thông minh như một phần không thể thiếu. Song việc giới trẻ lạm dụng và bị phụ thuộc vào nó đang là một thực trạng đáng bàn. Nhiều bạn trẻ dành phần lớn thời gian sử dụng điện thoại để tán gẫu, xem phim, nghe nhạc, chơi những trò chơi trực tuyến...; không còn hứng thú với những trò chơi ngoài trời, với những quyển sách, các hoạt động phong trào… Những người trẻ có thể ngồi “chém gió” thâu đêm với bạn bè nhưng lại không thể dành chút thời gian để tâm sự, nói chuyện cùng cha mẹ, người thân trong gia đình. Gia đình trở nên lạnh nhạt, xa cách, thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tình trạng không chuyên tâm học hành, bạo lực học đường, lối sống lệch lạc… xuất hiện ngày càng nhiều cũng một phần có lý do từ việc ảnh hưởng của thế giới ảo đó.

Không ai có thể phủ nhận những tiện ích mà công nghệ hiện đại mang lại nhưng để phát huy hiệu quả những tính năng, tiện ích của nó, giới trẻ nên có/tập/tạo thói quen sử dụng điện thoại thông minh một cách thông minh.

(Theo duongcv.wordpress.com, Giới trẻ và việc lạm dụng các sản phẩm công nghệ trong giao tiếp)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Cho biết phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0,5 điểm) Câu 2. Cụm từ: “những trò chơi ngoài trời” là cụm từ gì? Xác định mô hình của cụm từ này. (1,0 điểm)

Câu 3. Nội dung chính của văn bản? (0,5 điểm)

Câu 4. Trong cụm từ: “giới trẻ nên có/tập/tạo thói quen sử dụng điện thoại thông minh một cách thông minh”, em chọn từ nào trong ba từ có/tập/tạo để diễn đạt ý nghĩa? Giải thích vì sao em chọn từ đó. (1,0 điểm) Câu 5: Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về việc làm thế nào để khắc phục tình trạng lạm dụng và bị phụ thuộc vào điện thoại thông minh của giới trẻ ngày nay.

GỢI Ý:

1 Xác định đúng phương thức biểu đạt chính: nghị luận/lập luận

2 - Xác định đúng tên: Cụm danh từ. (0,50 đ)

- Mô hình: những trò chơi ngoài trời (0,50 đ) PT PTT PS

3 Nội dung chính văn bản: việc lạm dụng điện thoại thông minh của giới trẻ hiện nay.

4 - Chọn 1 trong 3 từ có/tập/tạo.(0,50 đ)

- Giải thích hợp lí cho việc lựa chọn đó. (0,50 đ)

Câu 5

Trình bày giải pháp khắc phục tình trạng lạm dụng và bị phụ thuộc vào điện thoại thông minh của giới trẻ ngày nay

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn

Mở đoạn giới thiệu được vấn đề, Thân đoạn triển khai được vấn đề, Kết đoạn khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng luận đề

Giải pháp khắc phục tình trạng lạm dụng và bị phụ thuộc vào điện thoại thông minh của giới trẻ ngày nay.

c. Triển khai nội dung bài viết

Học sinh có thể trình bày vấn đề theo nhiều cách, song cần đáp ứng các ý cơ bản sau:

-Tiện ích và tác hại của điện thoại thông minh với giới trẻ.

- Giải pháp khắc phục tình trạng lạm dụng và bị phụ thuộc vào điện thoại thông minh thiết thực và hợp lí.

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếngViệt.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

ĐỀ 79: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

“Lòng nhân ở mỗi con người, luôn tiềm ẩn và nếu nó được dung dưỡng và bồi đắp thì sẽ tạo ra những nhân cách sống đẹp và giúp ích cho xã hội. Câu chuyện bé gái Hải An 7 tuổi mất vì bệnh hiểm nghèo để lại giác mạc cho người sống đang tiếp tục lan tỏa, và đặc biệt là nó đã đánh thức lòng nhân trong nhiều người chúng ta. Những ngày qua, hàng trăm cuộc gọi điện và email hoặc trực tiếp đến nhờ tư vấn và đăng kí hiến tặng mô tạng tại Trung tâm Điều phối hiến ghép mô tạng quốc gia. Điều đó không phải bỗng dưng, nó được bắt đầu từ “đốm lửa nhỏ” mang tên Hải An. Một sự mất mát dù đau đớn nhưng lan truyền được cái đẹp, thậm chí tạo nên được một nguồn cảm hứng. Lòng nhân con người trong xã hội đầy bộn bề lo toan cơm áo gạo tiền dễ bị “ngủ yên”, nếu không được đánh thức thì nó sẽ mãi “ngủ yên”. Đời người trải qua sinh – bệnh – lão – tử và thường ngẫm rằng chết là hết. Nhưng với y học ngày càng phát triển, con người

chết đi không chỉ để lại tiếng mà còn có thể để lại một phần cơ thể, giúp ích cho những người khác đang sống. Không chỉ ở Việt Nam mà cả tại những quốc gia phát triển và văn minh bậc nhất thế giới như ở châu Âu và Bắc Mỹ, không phải cá nhân nào, gia đình nào cũng dễ dàng chấp nhận một thực tế hiến tặng mô tạng khi người thân mình mất đi.

Các trường hợp hiến tặng chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nhoi nhưng cũng chẳng thể trách móc vì đó là quyền của mỗi cá nhân, quyền con người. Thế mà một bé gái 7 tuổi, trong cơn bệnh hiểm nghèo, đã đồng ý hiến tặng mô tạng, đó mới là câu chuyện hiếm có. Chính vì thế, nó đã tạo ra được sự xúc động lan truyền trong xã hội, thúc đẩy sự mạnh dạn trong suy nghĩ của nhiều người về việc đăng kí hiến tặng mô tạng. Và hơn thế nữa, “đốm lửa nhỏ” Hải An cùng người mẹ của bé đã gợi cảm hứng về một suy nghĩ khác cho nhiều người: Trong cái chết nghĩ về sự sống, ta tiếp tục được sống trong một sự sống khác với tình yêu và sự chở che. Sự đánh thức lòng nhân và gợi cảm hứng về một cách sống đẹp luôn là điều mà mỗi con người hướng đến, qua đó chúng ta mới tạo được những giá trị sống về mặt tinh thần mạnh mẽ có thể lay động bao người. ”

(Nguồn Internet) Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?

Câu 2. Theo tác giả, vì sao “một bé gái 7 tuổi, trong cơn bệnh hiểm nghèo, đã đồng ý hiến tặng mô tạng, đó mới là câu chuyện hiếm có”?

Câu 3. Em hiểu như thế nào về ý kiến “Lòng nhân ở mỗi con người, luôn tiềm ẩn và nếu nó được dung dưỡng và bồi đắp thì sẽ tạo ra những nhân cách sống đẹp và giúp ích cho xã hội”?

Câu 4. Qua đoạn văn em rút ra được bài học gì cho mình?

GỢI Ý:

Câu 1. (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận Câu 2( 0,5 điểm)

Học sinh lí giải theo tác giả “một bé gái 7 tuổi, trong cơn bệnh hiểm nghèo, đã đồng ý hiến tặng mô tạng, đó mới là câu chuyện hiếm có” vì:

“Không chỉ ở Việt Nam mà cả những quốc gia phát triển và văn minh bậc nhất thế giới như ở Châu Âu và Bắc Mỹ, không phải cá nhân nào, gia đình nào cũng dễ dàng chấp nhận một thực tế hiến tặng mô tạng khi người thân mình mất đi. Các trường hợp hiến tặng chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nhoi nhưng cũng chẳng thể trách móc vì đó là quyền của mỗi cá nhân, quyền con người”.

Câu 3 (0,75 điểm)

HS nêu được ý hiểu của bản thân về ý kiến “Lòng nhân ở mỗi con người, luôn tiềm ẩn và nếu nó được dung dưỡng và bồi đắp thì sẽ tạo ra những nhân cách sống đẹp và giúp ích cho xã hội”

- Lòng nhân – tình yêu thương con người là cái bản chất, cái vốn có trong mỗi con người.

- Lòng nhân không phải lúc nào cũng được biểu lộ rõ ràng, dễ thấy mà đôi khi nó bị khuất lấp bởi những bộn bề cuộc sống, bởi vậy cần có những hành động cụ thể để đem tình yêu thương đó vào thực tiễn.

- Khi cả xã hội đối xử với nhau tràn ngập tình yêu thương cuộc sống sẽ trở nên đẹp đẽ hơn, hạnh phúc hơn.

Câu 4 (0,5 điểm )

Mỗi học sinh có thể tự rút ra cho mình những bài học khác nhau từ nội dung đoạn trích.

Gồm bài học nhận thức và hành động liên quan đến tình yêu thương, việc tử tế của con người trong cuộc sống.

Sau đây là một vài gợi ý:

- Tình yêu thương khi được lan tỏa sẽ đem lại những tác động tích cực cho cộng đồng xã hội.

- Mỗi chúng ta cần sống một cách tử tế, luôn yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh bằng sự chân thành.

- Cần thiết lan tỏa việc tử tế trong xã hội hiện nay...

ĐỀ 80: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

Cha lại dắt con đi trên cát mịn, Ánh nắng chảy đầy vai

Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời Con lại trỏ cánh buồm xa hỏi khẽ:

“Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé, Để con đi...!”

Lời của con hay tiếng sóng thầm thì Hay tiếng của lòng cha từ một thời xa thẳm

Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con.

(Hoàng Trung Thông, Những cánh buồm) Câu 1 (0,5 điểm): Tìm những từ láy có trong đoạn thơ trên.

Câu 2 (1,0 điểm): Chỉ ra lời dẫn trực tiếp trong đoạn thơ trên. Chuyển lời dẫn trực tiếp đó thành lời dẫn gián tiếp.

Câu 3 (1,0 điểm): Giải thích ý nghĩa của từ "chân trời" trong câu thơ “Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời". Hãy cho biết từ "chân” nói trên được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?

Câu 4 (1,5 điểm): Câu thơ "Ánh nắng chảy đầy vai" sử dụng biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 5 (2,0 điểm): Viết đoạn văn diễn dịch (khoảng 10 câu), có sử dụng phép nối và thành phần biệt lập tình thái, trình bày suy nghĩ về chủ đề sau:

Tình cảm yêu thương của người thân trong gia đình góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, tính cách, giúp ta lớn khôn.

Lưu ý gạch chân từ ngữ làm phương tiện của phép nối và thành phần biệt lập tình thái.

GỢI Ý:

1 Những từ láy có trong đoạn thơ trên là: trầm ngâm, thầm thì 2 - Lời dẫn trực tiếp trong đoạn thơ trên:

"Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé, Để con đi..."

- Chuyển lời dẫn trực tiếp đó thành lời dẫn gián tiếp:

Cha được con hỏi rằng có thể mượn cho con cánh buồm trắng không, con muốn đi!

3 - ý nghĩa của từ "chân trời": là đường giới hạn của tầm mắt ở nơi xa tít, trông tưởng như bầu trời tiếp xúc với mặt đất hay mặt biển.

- Từ "chân” nói trên được dùng theo nghĩa gốc

4 - Câu thơ "Ánh nắng chảy đầy vai" sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Tác dụng của biện pháp tu từ: Gợi tả sinh động hình ảnh ánh nắng hiện hữu như một thứ chất long thành dòng, thành giọt chảy tràn xuống cảnh vật, con người. Giups người đọc hình dùng cảnh hai cha con dắt nhau đi trên bãi biển vào một buổi chiều sáng đẹp trời.

5 Đưa ra vấn đề: giới thiệu về tình cảm yêu thương của người thân trong gia đình

Giải thích vấn đề

- Gia đình là gì? - là tế bào của xã hội, là tổng hợp các mối quan hệ, ứng xử, giá trị nhân cách, tình cảm, đạo đức, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cộng đồng, dân tộc.

- Tình cảm yêu thương của người thân trong gia đình bao gồm tình cảm của bố mẹ dành cho con, của ông bà dành cho cháu, của con cháu dành cho ông bà bố mẹ, tình cảm anh chị em trong gia đình.

- Biểu hiện: tình thương yêu, sự chăm sóc của ông bà bố mẹ dành cho con cháu, là sự kính trọng - hiếu thảo của con cháu dành ông bà cha mẹ.

- Tình cảm yêu thương của người thân trong gia đình góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, tính cách, giúp ta lớn khôn vì:

+ Nuôi dưỡng tâm hồn vì gia đình gắn liền từ lúc ta sinh ra và xuyên suốt

cuộc đời ta, là mái ấm, cội nguồn sinh dưỡng và hạnh phúc đầu tiên của con người. Là nơi ta được sống trong tình yêu thương, sự chở che, đùm bọc.

+ Xây dựng lên tính cách con người vì gia đình là cái nôi, là cơ sở, nền tảng bồi dưỡng tình cảm và hình thành nhân cách cao đẹp cho con người.

+ Giúp ta lớn khôn vì gia đình là điểm tựa, là chỗ dựa vững chắc, là bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời con người.

- Liên hệ bản thân em và gia đình hiện nay

Kết thúc vấn đề: Khẳng định lại chủ đề này là đúng đắn và cần được duy trì.

ĐỀ 81: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

“ Tôi trở lại Trường Sơn. Mười năm Và gặp ở đây những người không về nữa Đồng đội ơi, tôi tội tình chi rứa

Mà các anh quay mặt, tắt lòng.

...

Đá dựng tượng đài mang dáng những trái tim xếp nghiêng Những phiến đá chất chồng lớp lớp tuổi thanh niên

Tạc đất nước thành Trường Sơn sừng sững Giấu tên riêng trong hoang vắng rừng già.”

( Trước nghĩa trang Trường Sơn, Hoàng Trần Cường http:/hoangtrancuong.wordpress.com) Câu 1: Hãy chỉ ra ít nhất một biện pháp tu từ và một thành phần biệt lập ( gọi tên thành phần biệt lập đó) có trong đoạn thư thứ nhất.

Câu 2: Nêu nội dung của hai khổ thơ trên. Từ nội dung này, em liên tưởng đến tác phẩm nào đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp 9.

GỢI Ý Câu1:

- BPTT: Nói giảm nói tránh “ những người không về nữa”... 0,5 đ - Thành phần biệt lập: Gọi đáp “ Đồng đội ơi” 0,5 đ

Câu 2:

- Nội dung hai khổ thơ: Cảm xúc của tác giả khi về thăm nghĩa trang Trường Sơn, tượng niệm những người đồng đội đã anh dũng hy sinh thầm lặng 0,5 đ - Từ nội dung này, HS liên tưởng đến bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của

Phạm Tiên Duật hoặc tác phẩm “Những ngôi sao xôi” của Lê Minh Khuê ĐỀ 82: Đọc văn bản sau và làm theo yêu cầu bên dưới:

(1) Mạng xã hội, thế giới mạng đầy rẫy những cạm bẫy và lừa lọc, nơi mà một anh xe ôm cũng có thể là giám đốc bảnh bao, chị bán xôi cũng có thể là nữ doanh nhân thành đạt. Và chúng ta hãy tưởng tượng nếu con em chúng ta ngày ngày tương tác với những người xa lạ này trên cộng đồng mạng, ảnh hưởng lâu dài sẽ nguy hại đến thế nào? Facebook, nếu những nội dung xấu trên mạng nhận được sự ủng hộ lớn, nếu mỗi cái like là một “phiếu bầu của niềm tin”, thì liệu các bạn trẻ có còn đủ tỉnh táo để phân biệt đúng sai và kiểm chứng tính xác thực của thông tin, hay sẽ hùa theo “tâm lý đám đông” và nghiễm nhiên cho những điều đó là đúng?

(2) Chúng ta hay nhắc đến sự xâm lược về văn hóa của nước ngoài, nhưng liệu chúng ta đã thật sự quan tâm đến những vấn đề cấp bách về văn hóa ngay trong cộng đồng của mình? Những công dụng tốt của cộng đồng mạng là không thể chối bỏ, nhưng những mảng tối cũng cần phải bị bộc lộ, phân tích và tìm cách khắc phục. Chúng ta không thể (và không nên) chống lại sự phát triển của công nghệ internet, cũng không thể cấm giới trẻ sử dụng facebook, nhưng khi nhận ra được những tác động to lớn về văn hóa từ không gian ảo này, chúng ta sẽ có thể quan tâm và định hướng phát triển cho con em chúng ta tốt hơn.

(Nguồn Internet) a. (1 điểm): Nêu nội dung văn bản trên.

b. (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là phương thức nào?

c. (0,5 điểm): Tìm và phân tích một phép liên kết câu trong đoạn văn thứ nhất.

d. (1 điểm): Tìm thành phần khởi ngữ và một thành phần biệt lập có trong văn bản trên.

e. (2 điểm): Viết đoạn văn (từ 7 đến 10 dòng) trình bày suy nghĩ của em qua nội dung được thể hiện ở đoạn thứ hai.

GỢI Ý:

a: Nêu nội dung của đoạn văn trên

- Học sinh nêu được ý nội dung: Bàn về mọi người sa đà vào mặt xấu của mạng xã hội (facebook). Cần quan tâm định hướng tốt hơn khi sử dụng facebook (1 điểm).

- Học sinh có thể nói không giống nhưng đảm bảo được hiểu nội dung chính của đoạn, ghi trọn số điểm.

Một phần của tài liệu ĐỀ đọc HIỂU NGOÀI CT văn 9 (Trang 130 - 141)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(363 trang)
w