Phần III dựa vào cơ cấu phân tích trong phần I để khảo sát mỗi loại quyết định chiến lược quan trọng trong một ngành:
- Tích hợp theo chiều dọc (chương 14);
- Mở rộng công suất (Chương 15) - Gia nhập một ngành (chương 16)
Giải thể, một quyết định chiến lược quan trọng khác, đã được xem xét chi tiết trong chương 12, chương phân tích những vấn đề cạnh tranh trong những ngành đang suy thoái.
Mỗi chương trong phần III đều dựa vào những khái niệm trong phần I có liên quan đến quyết định chiến lược cụ thể mà chương đó khảo sát. Phần III cũng giới thiệu bổ sung lý thuyết kinh tế và những nội dung về quản lý và lãnh đạo một tổ chức liên quan đến mỗi loại quyết định chiến lược.
Phần III được thiết kế để không chỉ giúp doanh nghiệp thực hiện những quyết định chiến lược này mà còn giúp nó hiểu được cách các đối thủ, khách hàng, nhà cung cấp và những đối thủ gia nhập ngành tiềm năng có thể ứng phó với chúng. Do đó, phần III củng cố và làm sâu sắc thêm những khái niệm đã trình bày trong phần I và phần II.
14. Phân tích chiến lược tích hợp theo chiều dọc
Tích hợp theo chiều dọc là sự kết hợp những quá trình sản xuất, phân phối, bán hàng và/hoặc những quy trình kinh tế khác có công nghệ khác biệt nhau trong một doanh nghiệp. Do vậy, nó thể hiện việc doanh nghiệp quyết định sử dụng các giao dịch nội bộ (internal transaction) thay vì các giao dịch thị trường (market transaction) để hoàn thành các mục tiêu kinh tế của mình.
Chẳng hạn, một doanh nghiệp có thể sử dụng đội ngũ bán hàng riêng thay vì hợp đồng với một tổ chức bán hàng độc lập trên thị trường để cung cấp dịch vụ bán hàng mà nó yêu cầu. Tương tự, doanh nghiệp có thể tự khai thác nguồn nguyên liệu mà nó sử dụng để chế tạo sản phẩm cuối thay vì thuê một công ty khai thác cung cấp nguyên liệu.
Về lý thuyết, tất cả những chức năng mà chúng ta hiện nay kỳ vọng một doanh nghiệp thực hiện đều có thể thực hiện bởi một nhóm các thực thể kinh tế độc lập, mỗi thực thể ký hợp đồng với một nhà điều phối trung tâm, vốn chỉ cần không nhiều hơn một cái bàn và một ông giám đốc. Thực tế, các phân khúc trong ngành xuất bản sách và băng đĩa có hình thức tương tự như thế. Nhiều nhà xuất bản hợp đồng với các dịch vụ biên tập, chế bản, đồ họa, in ấn, phân phối và bán hàng, chỉ giữ lại quyền quyết định xuất bản cuốn sách nào, tiếp thị và tài chính. Một số công ty băng đĩa, tương tự, cũng hợp đồng với các nghệ sĩ độc lập, nhà sản xuất, phòng thu, công ty ghi đĩa và các tổ chức phân phối, tiếp thị để sản xuất và bán băng đĩa.
Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp, các doanh nghiệp thấy rằng tự thực hiện phần lớn những hoạt động quản lý, sản xuất, phân phối hay marketing cần thiết sẽ có lợi hơn là hợp đồng với những tổ chức độc lập bên ngoài. Họ tin rằng điều đó rẻ hơn, ít rủi ro hơn và dễ điều phối hơn.
Nhiều quyết định tích hợp dọc được xem xét dưới dạng quyết định “sản xuất hay mua ngoài”, tập trung vào những khía cạnh tài chính của mỗi phương án[112], nghĩa là so sánh chi phí tiết kiệm được nhờ tích hợp với những khoản đầu tư phải thực hiện. Tuy nhiên, quyết định tích hợp dọc có ý
nghĩa lớn hơn thế. Bản chất của quyết định tích hợp dọc không phải chỉ là cân nhắc tài chính mà chính là những con số đóng vai trò làm nguyên liệu cho những cân nhắc đó. Quyết định tích hợp phải vượt lên trên phân tích chi phí và đầu tư để cân nhắc những vấn đề chiến lược lớn hơn, so sánh giữa tích hợp với sử dụng các giao dịch thị trường cũng như tính đến một số vấn đề hành chính phức tạp trong quản lý một tổ chức tích hợp dọc và có thể ảnh hưởng tới thành công của doanh nghiệp tích hợp. Những vấn đề này rất khó lượng hóa. Chính độ lớn và tầm quan trọng chiến lược của những lợi ích và chi phí gắn với tích hợp dọc, cả trực tiếp về mặt kinh tế và gián tiếp tác dộng đến những mặt khác của tổ chức, là bản chất của quyết định tích hợp.
Chương này khảo sát những hệ quả kinh tế và quản lý của tích hợp dọc nhằm giúp nhà quàn lý quyết định mức độ tích hợp phù hợp với bối cảnh chiến lược và nhằm giúp định hướng các quyết định tích hợp (integrate) hoặc phân tách (disintegrate). Để xác định mức độ tích hợp dọc phù hợp về mặt chiến lược cho doanh nghiệp đòi hỏi phải cân đối giữa những lợi ích và những chi phí kinh tế và quản lý của tích hợp dọc. Điều này phụ thuộc vào từng ngành cụ thể và vào tình huống chiến lược cụ thể của doanh nghiệp.
Việc doanh nghiệp áp dụng chính sách tích hợp một phần (nghĩa là tự sản xuất một số sản phẩm cần thiết và mua ngoài phần còn lại) hoặc tích hợp toàn bộ cũng ảnh hưởng đến những tính toán lợi ích và chi phí này. Đôi khi cũng có thể đạt được những lợi ích của tích hợp mà không cần phải bỏ toàn bộ chi phí tích hợp thông qua cách sử dụng “giả tích hợp - quasi- integration” - tức là dùng đầu tư cổ phiếu hay công cụ nợ và các phương pháp khác để tạo ra liên minh giữa các doanh nghiệp có liên quan theo chiều dọc mà không cần phải sở hữu.
Khung phân tích trình bày trong chương này không phải là một công thức mà là một chỉ dẫn đảm bảo rằng những lợi ích và chi phí quan trọng của hoạt động tích hợp dọc được xem xét đầy đủ, cảnh báo nhà quản lý về những cạm bẫy và gợi ý một số lựa chọn để gặt hái những lợi ích của tích hợp dọc toàn bộ. Khung phân tích này cần được kết hợp với phân tích ngành và phân tích cạnh tranh trong những trường hợp cụ thể và với đánh giá chiến lược của doanh nghiệp thực hiện quyết định tích hợp.
Những lợi ích và chi phí chiến lược của tích hợp dọc
Tích hợp dọc có những lợi ích và chi phí phổ biến cần được xem xét trong mọi quyết định tích hợp. Tuy nhiên, độ lớn và ý nghĩa của những lợi ích và chi phí này phụ thuộc vào từng ngành cụ thể. Điều này áp dụng với cả tích hợp tiến (forward integration) và tích hợp ngược (backward integration) nhưng cần có sự thay đổi cần thiết về góc nhìn. Tôi sẽ thảo luận những lợi ích và chi phí chung đó ở đây và dành những phần tiếp theo để khảo sát một số vấn đề đặc thù với tích hợp tiến và tích hợp ngược. Trong phần thảo luận này, doanh nghiệp đầu nguồn (upstream) là doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp đang xét và doanh nghiệp cuối nguồn (downstream) là doanh nghiệp mua hàng trong chuỗi giá trị theo chiều dọc.
KHỐI LƯỢNG ĐẦU VÀO SO VỚI QUY MÔ HIỆU QUẢ
Những lợi ích của tích hợp dọc phụ thuộc trước hết vào tỷ lệ giữa khối lượng sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp mua từ hay bán cho công đoạn gần nhất trong chuỗi so với quy mô sản xuất hiệu quả ở công đoạn đó.
Để minh họa, chúng ta hãy xét trường hợp của một doanh nghiệp tích hợp ngược. Khối lượng đầu vào mà doanh nghiệp muốn tích hợp ngược mua phải đủ lớn để hỗ trợ cho đơn vị cung cấp đầu vào mà doanh nghiệp thành lập gặt hái được toàn bộ lợi thế kinh tế nhờ quy mô, nếu không doanh nghiệp sẽ gặp phải một tình thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc là nó phải chấp nhận bất lợi về chi phí khi tự sản xuất đầu vào; hoặc là nó buộc phải bán một phần sản phẩm từ bộ phận sản xuất này ra thị trường. Như sẽ được thảo luận chi tiết sau, việc bán sản phẩm không dùng hết ra thị trường có thể không dễ dàng bởi vì doanh nghiệp có thể phải bán cho các đối thủ cạnh tranh của mình. Nếu nhu cầu của doanh nghiệp không lớn hơn quy mô sản xuất hiệu quả, doanh nghiệp phải đối mặt với một trong hai loại chi phí của việc tích hợp: hoặc là doanh nghiệp phải xây dựng một cơ sở sản xuất nhỏ không hiệu quả nhưng đáp ứng vừa đủ nhu cầu, hoặc là doanh nghiệp phải xây dựng một cơ sở sản xuất hiệu quả và phải chịu rủi ro của việc bán sản phẩm trên thị trường.
NHỮNG LỢI ÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆC TÍCH HỢP NHỮNG LỢI THẾ KINH TẾ CỦA TÍCH HỢP
Nếu khối lượng đầu vào đủ lớn để để gặt hái những lợi thế kinh tế nhờ quy
mô[113]
, lợi ích thường được nhắc đến nhất của tích hợp dọc là lợi ích kinh tế hay tiết kiệm chi phí nhờ kết hợp sản xuất, bán hàng, mua hàng, kiểm soát và những mặt khác.
Những lợi thế kinh tế của việc kết hợp hoạt động. Bằng cách kết hợp những hoạt động có công nghệ sản xuất khác nhau lại với nhau, doanh nghiệp đôi khi có thể nâng cao được hiệu quả. Ví dụ, trong sản xuất, điều này làm giảm các bước trong quy trình sản xuất, giảm chi phí vận tải, bốc xếp và tận dụng công suất thừa trong một công đoạn (thời gian chạy máy, không gian, phương tiện bảo dưỡng v.v...). Trong ví dụ kinh điển về cán thép nóng, thép không cần phải nung lại nếu quá trình luyện và cán thép được tích hợp. Kim loại có thể không cần phải xử lý để tránh oxy hóa trước khi chuyển sang công đoạn tiếp theo; công suất thừa của một số máy móc có thể được sử dụng cho cả hai quá trình. Các thiết bị có thể được đặt gần nhau như trong trường hợp của nhiều khách hàng lớn sử dụng axit sulfuric (các công ty phân bón và dầu mỏ), những người đã tích hợp ngược vào ngành sản xuất axit sulfuric. Điều này làm giảm chi phí vận chuyển vốn rất lớn với những sản phẩm nguy hiểm và khó vận chuyển như axit sulfuric.
Những lợi thế kinh tế của việc kiểm soát và điều phối nội bộ. Chi phí lập lịch, điều phối các hoạt động và ứng phó với những sự kiện bất thường có thể sẽ thấp hơn nếu doanh nghiệp được tích hợp. Các đơn vị tích hợp ở gần nhau cũng giúp điều phối và kiểm soát tốt hơn. Doanh nghiệp nội bộ cũng nhiều khả năng đáng tin cậy hơn và do đó có thể giảm được các khoản dự phòng nhằm ứng phó với những sự kiện bất thường. Nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định hơn hay khả năng giao hàng đều đặn hơn có thể giúp kiểm soát tốt hơn lịch sản xuất, giao hàng và bảo dưỡng. Đó là bởi vì phần doanh thu mà nhà cung cấp bị thiệt khi giao hàng không đúng hạn có thể thấp hơn nhiều thiệt hại do gián đoạn sản xuất gây ra, do đó, khó có thể đảm bảo là họ sẽ giao hàng đúng hạn. Thay đổi mẫu mã, thiết kế lại sản phẩm hay giới thiệu những sản phẩm mới cũng có thể dễ điều phối nội bộ hơn hoặc điều phối được thực hiện nhanh chóng hơn. Những lợi thế kinh tế trong kiểm soát này có thể làm giảm thời gian chết, nhu cầu phải tích trữ hàng tồn kho và nhân sự thực hiện chức năng kiểm soát.
Những lợi thế kinh tế nhờ thông tin. Những hoạt động tích hợp có thể làm giảm nhu cầu phải thu thập một số thông tin về thị trường hay giảm tổng chi
phí tiếp cận thị trường. Những chi phí cố định của việc giám sát thị trường và dự báo cung cầu và giá cả có thể được trải ra tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp tích hợp trong khi mỗi thực thể sẽ phải chịu chi phí riêng nếu không tích hợp với nhau[114]. Ví dụ, một nhà chế biến thực phẩm tích hợp có thể sử dụng dự báo doanh số sản phẩm cuối cùng trong tất cả công đoạn trong chuỗi giá trị dọc. Tương tự, thông tin thị trường có thể lan tỏa tự do hơn trong lòng một tổ chức hơn là giữa một chuỗi những thực thể độc lập.
Tích hợp, do đó, có thể cho phép doanh nghiệp có được thông tin nhanh hơn và chính xác hơn về thị trường.
Lợi thế kinh tế nhờ tránh được thị trường. Bằng cách tích hợp, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí mua bán hàng, đàm phán và giao dịch.
Mặc dù giao dịch nội bộ cũng thường cần phải đàm phán, chi phí sẽ không lớn như khi bán hoặc mua từ các đối tác bên ngoài. Không cần phải có đội ngũ bán hàng, marketing hay phòng mua hàng. Hơn nữa, quảng cáo cũng như các chi phí marketing khác là không cần thiết.
Lợi thế kinh tế của mối quan hệ ổn định. Khi các giai đoạn đầu nguồn và cuối nguồn biết rằng quan hệ mua bán của chúng rất ổn định, chúng sẽ có thể xây dựng những thủ tục hiệu quả và chuyên môn hóa hơn để giao dịch với nhau, điều không khả thi với những nhà cung cấp hay khách hàng độc lập vì cả người mua và người bán sẽ phải đối mặt với rủi ro bị loại bỏ hoặc bị ép giá bởi đối tác. Các thủ tục chuyên môn hóa cho giao dịch với các nhà cung cấp hay khách hàng nội bộ có thể bao gồm những hệ thống hậu cần chuyên biệt, đóng gói đặc thù, những cách tổ chức kiểm soát và ghi chép giao dịch riêng và những phương pháp có tiềm năng tiết kiệm chi phí khác.
Quan hệ ổn định cũng có thể giúp đơn vị đầu nguồn điều chỉnh sản phẩm của nó (về chất lượng, cấu hình...) cho phù hợp với yêu cầu của đơn vị cuối nguồn hoặc giúp đơn vị cuối nguồn điều chỉnh cho khớp với những đặc trưng của đơn vị đầu nguồn. Mức độ mà những điều chỉnh này trói buộc những đơn vị độc lập lại với nhau khi chúng không phải là các đơn vị tích hợp với nhau có thể gắn với một phần bù rủi ro làm tăng chi phí.
Những tính chất của các lợi thế kinh tế của tích hợp dọc. Những lợi thế kinh tế của tích hợp dọc nằm ở trung tâm của phân tích về tích hợp dọc không chỉ bởi vai trò của bản thân chúng mà còn bởi chúng có thể đóng góp vào
tầm quan trọng của một số vấn đề khác trong tích hợp dọc được thảo luận dưới đây. Rõ ràng, tầm quan trọng của chúng khác nhau giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, phụ thuộc vào chiến lược, điểm mạnh và điểm yếu của từng doanh nghiệp. Chẳng hạn, một doanh nghiệp với chiến lược sản xuất chi phí thấp có thể ưu tiên giành tất cả mọi lợi thế kinh tế.
Tương tự, một doanh nghiệp yếu về marketing có thể tiết kiệm được nhiều hơn nhờ tránh các giao dịch thị trường.
TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ
Một lợi ích tiềm năng khác của tích hợp dọc là tiếp cận được công nghệ.
Trong một số trường hợp, tích hợp có thể tạo ra sự gần gũi về công nghệ giữa doanh nghiệp với đơn vị đầu nguồn hoặc đơn vị cuối nguồn, điều rất quan trọng đối với thành công của doanh nghiệp. Đây là một dạng lợi thế kinh tế nhờ thông tin quan trọng, do đó, cần được tách riêng để nghiên cứu.
Ví dụ, nhiều nhà sản xuất máy tính lớn và máy tính mini đã thực hiện tích hợp ngược vào ngành thiết kế và sản xuất bán dẫn nhằm hiểu rõ hơn công nghệ quan trọng này. Các nhà sản xuất linh kiện trong nhiều ngành đã tích hợp tiến vào ngành sản xuất sản phẩm để tìm hiểu rõ hơn các linh kiện đó được sử dụng như thế nào. Thông thường, tích hợp để tiếp cận công nghệ được thực hiện dưới dạng tích hợp một phần bởi vì tích hợp toàn bộ đi kèm với một số rủi ro công nghệ.
ĐẢM BẢO NGUỒN CUNG VÀ/HOẶC NGUỒN CẦU
Tích hợp dọc sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo được đầu vào trong những thời kỳ khan hiếm hoặc sẽ có đầu ra trong giai đoạn nhu cầu thấp. Tích hợp chỉ có thể đảm bảo đầu ra trong mức độ mà đơn vị cuối nguồn có thể hấp thụ được sản phẩm của đơn vị đầu nguồn. Khả năng của đơn vị cuối nguồn rõ ràng phụ thuộc vào tác động của các điều kiện cạnh tranh về cầu. Nếu nhu cầu trong ngành cuối nguồn thấp, doanh số của đơn vị cuối nguồn tích hợp cũng có thể thấp và nhu cầu đầu vào của nó cũng thấp tương ứng. Do đó, tích hợp chỉ có thể giảm rủi ro doanh nghiệp bị khách hàng đột ngột cắt giảm lượng mua chứ không đảm bảo nguồn cầu theo nghĩa đen.
Mặc dù tích hợp dọc có thể làm giảm rủi ro về cung và cầu và bảo vệ doanh nghiệp khỏi những biến động về giá, nó không có nghĩa là giá nội bộ