Khái niệm và vai trò của chủ thể quan hệ lao động

Một phần của tài liệu Giáo trình Quan hệ lao động: Phần 1 (Trang 120 - 123)

CÁC CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG

3.1. Khái niệm và vai trò của chủ thể quan hệ lao động

Theo từ điển Tiếng Việt, chủ thể được hiểu là bộ phận chính, giữ vai trò chủ đạo1. Chủ thể còn được hiểu là đối tượng nắm quyền sở hữu trong phạm vi được đề cập đến.

Chủ thể quan hệ lao động được hiểu là cá nhân, tổ chức có tính đại diện tham gia vào quá trình tương tác của quan hệ lao động. Trong quan hệ lao động, chủ thể còn được gọi là đối tác hay các bên của quan hệ lao động.

Qua khái niệm trên có thể thấy:

Một là, chủ thể của quan hệ lao động có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

Tham gia vào quan hệ lao động với tư cách cá nhân bao gồm cá nhân người lao động và cá nhân người sử dụng lao động. Các tổ chức tham gia vào quan hệ lao động với vai trò đại diện cho người lao động hoặc người sử dụng lao động và được gọi là tổ chức đại diện cho người lao động, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động.

Hai là, cá nhân, tổ chức này tham gia vào quá trình tương tác của quan hệ lao động nhằm thiết lập, vận hành, duy trì, phát triển và chấm

1 Nguyễn Như Ý chủ biên (2000), Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.

dứt quan hệ lao động. Họ chính là bộ phận chính, tham gia và giữ vai trò chủ đạo trong quan hệ lao động ở doanh nghiệp, ngành, địa phương, quốc gia và quốc tế.

Ba là, chủ thể của quan hệ lao động có sự khác nhau theo từng cấp độ quan hệ lao động. Ở cấp quốc gia, chủ thể của quan hệ lao động bao gồm: Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Chính phủ); Tổ chức đại diện người lao động; Tổ chức đại diện người sử dụng lao động (ví dụ ở Việt Nam, tổ chức đại diện cho người lao động là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam). Ở cấp địa phương và cấp ngành, chủ thể của quan hệ lao động là Sở Lao động địa phương, Liên đoàn Lao động và chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp, Liên minh Hợp tác xã trong thực hiện các quy định của pháp luật lao động, hỗ trợ các bên trong xây dựng quan hệ lao động phạm vi khu công nghiệp và doanh nghiệp. Ở cấp doanh nghiệp, chủ thể của quan hệ lao động bao gồm: người lao động và tổ chức đại diện cho người lao động (công đoàn ngành và công đoàn cơ sở), người sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động (của ngành). Hai chủ thể này thông qua các cơ chế đối thoại xã hội, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan nhằm tạo quan hệ lao động lành mạnh thúc đẩy sự phát triển của ngành và của doanh nghiệp.

Mặc dù ở các cấp độ khác nhau, các chủ thể của quan hệ lao động là khác nhau. Tuy nhiên có thể thấy có ba chủ thể chính của quan hệ lao động là: người lao động và tổ chức đại diện cho người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động, Nhà nước. Không phải tất cả các chủ thể này đều tham gia đầy đủ và trực tiếp vào quan hệ lao động ở các cấp khác nhau.

3.1.2. Vai trò của chủ thể quan hệ lao động

Xét một cách tổng thể, vai trò của các chủ thể quan hệ lao động được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Một là, chủ thể quan hệ lao động quyết định đến việc hình thành và kết thúc quan hệ lao động, cho dù ở cấp độ nào. Quyết định tham gia hay

không tham gia quan hệ lao động, duy trì hay kết thúc quan hệ lao động với đối tác nào đều thuộc về chủ thể người lao động và chủ thể người sử dụng lao động;

Hai là, chủ thể quan hệ lao động quyết định thời gian diễn ra quan hệ lao động. Độ dài của quá trình tương tác giữa các chủ thể quan hệ lao động là do các chủ thể tự định đoạt và được thể hiện ở thời gian của hợp đồng lao động. Thời gian diễn ra quan hệ lao động có thể được rút ngắn hay kéo dài bởi đề nghị của một chủ thể với chủ thể còn lại theo đúng quy định của pháp luật (đảm bảo thời gian báo trước, hay ký kết tiếp tục hợp đồng lao động).

Ba là, chủ thể quan hệ lao động sẽ quyết định hình thức tương tác trong quan hệ lao động. Có rất nhiều cách để các chủ thể quan hệ lao động tương tác với nhau. Theo đề nghị của ILO, đối thoại xã hội là công cụ đầu tiên, là xương sống của quá trình tương tác giữa các chủ thể; tranh chấp lao động đúng luật là đối sách nếu đối thoại xã hội không thành và đình công là vũ khí cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách giải quyết nào khác. Mặc dù vậy, trong thực tế không phải lúc nào các chủ thể quan hệ lao động cũng tuần tự thực hiện như vậy mà đôi khi một chủ thể lại phá vỡ lề lối thông thường.

Bốn là, chủ thể quan hệ lao động sẽ quyết định nội dung tương tác trong quan hệ lao động. Quá trình tương tác giữa các chủ thể quan hệ lao động để bàn về ba nhóm nội dung cơ bản đó là: Công việc thực hiện;

Điều kiện làm việc; Thu nhập từ công việc phản ánh quyền cơ bản và lợi ích của người lao động tại nơi làm việc. Trong mỗi thời điểm của quá trình tương tác giữa các chủ thể, nội dung tương tác được lựa chọn ưu tiên bàn thảo sẽ không đồng nhất xuất phát từ tình hình thực tiễn và nguyện vọng của mỗi bên.

Năm là, chủ thể quan hệ lao động quyết định đến tính lành mạnh của quan hệ lao động. Từ tất cả các vai trò nêu trên, khi các chủ thể đã lựa chọn hình thức tương tác phù hợp, nội dung tương tác đúng đắn, thái độ tương tác đúng mực thì họ sẽ quyết định chất lượng của quan hệ lao động. Và khi các chủ thể người lao động đã hòa hợp với người sử dụng lao động trong khuôn khổ môi trường quan hệ lao động do chủ thể Nhà nước tạo lập thì tính lành mạnh của quan hệ lao động trở nên bền vững.

Xét một cách cụ thể vai trò của từng chủ thể quan hệ lao động: người lao động hay tổ chức đại diện cho người lao động; người sử dụng lao động hay tổ chức đại diện cho người lao động và chủ thể Nhà nước sẽ được đề cập chi tiết ở các nội dung tiếp theo của chương.

Một phần của tài liệu Giáo trình Quan hệ lao động: Phần 1 (Trang 120 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)