CÁC CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
3.3. Người sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động lao động
3.3.1. Người sử dụng lao động 3.3.1.1. Khái niệm
Người sử dụng lao động là chủ thể thứ hai của quan hệ lao động.
Cũng có nhiều khái niệm khác nhau về người sử dụng lao động:
Theo Luật Nhân lực của In-đô-nê-xi-a, người sử dụng lao động là bất kỳ một cá nhân, doanh nhân, pháp nhân hay thực thể pháp lý nào khác thuê nhân lực và trả cho họ tiền công hoặc bất kỳ hình thức đãi ngộ nào khác1.
Theo Luật Công đoàn và điều chỉnh quan hệ lao động của Hàn Quốc, người sử dụng lao động để chỉ một chủ doanh nghiệp, một người chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp, hay một người làm việc thay mặt cho chủ doanh nghiệp phụ trách các vấn đề liên quan đến người lao động trong doanh nghiệp2.
Theo Bộ luật Lao động Nga, người sử dụng lao động là cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) tham gia quan hệ lao động với người lao động.
Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật Liên bang thì người sử dụng lao động có thể là một chủ thể khác có quyền ký kết hợp đồng lao động3
Theo quy định của Bộ luật Lao động của Việt Nam (Điều 6), người sử dụng lao động được hiểu là doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động4.
Từ những quan điểm nêu trên có thể rút ra khái niệm: Người sử dụng lao động là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động.
Trong khái niệm này, có mấy điểm cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, người sử dụng lao động có thể là cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp. Ở nước ta, cá nhân ít nhất phải đủ 18 tuổi.
1 In-đô-nê-xi-a, Luật Nhân lực, 2003, Điều 1.
2 Hàn Quốc, Luật Công đoàn và Điều chỉnh quan hệ lao động, 2001, Điều 2.
3 Nga, Bộ Luật Lao động, Điều 20.
4 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2012), Luật số 10/2012/QH13 - Luật Lao động, Điều 6.
Thứ hai, người sử dụng lao động thực hiện thuê mướn lao động, thường qua ký kết hợp đồng. Cần chú ý người trực tiếp ký kết hợp đồng, có những thỏa thuận với người lao động là người sử dụng lao động. Nói cách khác bên A trong hợp đồng lao động chính là người sử dụng lao động. Còn các nhà quản trị lao động hàng ngày chỉ là những người được người sử dụng lao động ủy quyền. Về bản chất ai là người có quan hệ lợi ích trực tiếp với người lao động thông qua thỏa thuận hợp đồng lao động thì là người sử dụng lao động.
Thứ ba, người sử dụng lao động phải trả công cho người lao động theo thỏa thuận, phù hợp với thị trường, với công sức của người lao động và đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật.
3.3.1.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động Quyền của người sử dụng lao động
- Trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật;
- Bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh;
- Có quyền khen thưởng và xử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động;
- Cử đại diện để thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp hoặc thỏa ước lao động tập thể ngành;
- Cộng tác với công đoàn bàn bạc các vấn đề về quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động;
- Xây dựng nội quy lao động.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động:
- Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và những thỏa thuận khác với người lao động;
- Đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, đảm bảo kỷ luật lao động;
- Tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động;
- Quan tâm đến đời sống của người lao động;
- …
3.3.1.3. Năng lực của người sử dụng lao động
Để có đủ năng lực để tham gia vào quan hệ lao động, người sử dụng lao động cần có các năng lực sau:
Về kiến thức: kiến thức liên quan đến pháp luật về quản lý và sử dụng lao động; kiến thức quản lý nhân sự; kiến thức về quyền và nghĩa vụ của người lao động, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, quyền của cán bộ công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động, trách nhiệm của người sử dụng lao động với tổ chức công đoàn cơ sở, trách nhiệm của người sử dụng lao động với người lao động, kiến thức về thương lượng, đối thoại xã hội, tranh chấp lao động, đình công, kiến thức về văn hóa đối thoại...
Về kỹ năng: kỹ năng đối thoại; kỹ năng thương lượng, đàm phán; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng gây ảnh hưởng; kỹ năng lựa chọn đại diện...
Về thái độ: người sử dụng lao động rất cần có thái độ phù hợp, sẵn sàng tham gia vào việc thương lượng, đối thoại xã hội với người lao động để giải quyết nhanh chóng các mâu thuẫn.
Có thể thấy năng lực của cá nhân người sử dụng lao động cũng được biểu hiện thông qua mô hình ASK như đã trình bày ở phần năng lực của người lao động. Ngoài ra người sử dụng lao động còn phải có khả năng tài chính để chi trả tiền công và đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động. Năng lực của người sử dụng lao động còn có sự khác biệt rõ nét với người lao động được thể hiện ở quan điểm, thái độ và năng lực chỉ đạo của người sử dụng lao động được thể hiện sự áp đặt, cách hành xử trong thực tế đối với người lao động.
Nếu người sử dụng lao động là tổ chức, doanh nghiệp, năng lực của người sử dụng lao động được thể hiện ở các khía cạnh: năng lực pháp lý (được thành lập theo quy định của pháp luật); năng lực tài chính (có khả năng tài chính để chi trả tiền công và duy trì phát triển hoạt động của tổ chức); năng lực về cơ sở vật chất kỹ thuật (đảm bảo điều kiện làm việc);
năng lực của đội ngũ các nhà quản lý. Đây là những năng lực nguồn, đảm bảo tạo nền tảng cho việc thiết lập và duy trì quan hệ lao động.
Nếu người sử dụng lao động có đủ năng lực bao gồm cả hành vi và nhận thức sẽ có điều kiện để thiết lập được quan hệ lao động lành mạnh
đối với người lao động. Người sử dụng lao động có năng lực tốt sẽ có ý thức cao trong việc thiết lập quan hệ lao động lành mạnh, giải quyết mâu thuẫn nhanh chóng, hợp tác tốt với người lao động để đảm bảo thương lượng tập thể thành công, qua đó giúp đạt mục tiêu kinh doanh.
3.3.2. Tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động 3.3.2.1. Khái niệm
Tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động cũng là chủ thể thứ hai của quan hệ lao động. Tuy nhiên khác với tổ chức đại diện cho người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động không có mặt trong quan hệ lao động cấp doanh nghiệp.
Thời kỳ đầu của giai đoạn công nghiệp hóa tại các nước phát triển, giới chủ (người sử dụng lao động) chưa có xu hướng liên kết mà chỉ cạnh tranh với nhau. Nhưng đến một giai đoạn nhất định khi chính quyền được tổ chức chặt chẽ hơn, công đoàn (tổ chức đại diện cho người lao động) trở nên có kinh nghiệm hơn trong các hoạt động chính trị thì các chủ doanh nghiệp nhận thấy cần thiết cũng phải có sự hợp sức, đoàn kết lại.
Do vậy dẫn đến sự ra đời của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động hay còn gọi là Hiệp hội giới chủ.
Bao trùm của việc ra đời tổ chức đại diện người sử dụng lao động là để bảo vệ và tăng cường quyền, lợi ích của người sử dụng lao động ở trên bình diện quốc tế, quốc gia, ngành, nghề, khu vực.
Cho dù đứng trên cương vị của người sử dụng lao động hay người lao động, các chủ thể này luôn mong muốn tối đa hóa quyền và lợi ích.
Như đã phân tích ở trên, với người lao động tổ chức đại diện cho họ là tổ chức công đoàn được hình thành dựa trên việc đoàn kết, tập hợp nhau và tự nguyện, dân chủ. Còn đối với người sử dụng lao động, việc có tổ chức đại diện cho họ thông qua sự liên kết giúp làm tăng vị thế, thúc đẩy phát triển thông qua các chương trình hành động cụ thể.
Ở nhiều quốc gia, do sức ép phải đàm phán với các cuộc đấu tranh mà người lao động tạo ra, để thương lượng với đại diện của người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của mình, để đàm phán hiệu quả trong các cuộc thương lượng với công đoàn cùng cấp, đồng thời, tạo ra sức mạnh tập thể trong việc nâng cao sức cạnh tranh, tối đa hoá lợi nhuận, thúc đẩy
sự phát triển mạnh mẽ của các thành viên, người sử dụng lao động thấy cần thiết phải có tổ chức đại diện cho mình.
Thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động:
Theo Luật Công đoàn và điều chỉnh quan hệ lao động của Hàn Quốc, tổ chức của người sử dụng lao động để chỉ một tổ chức của những người sử dụng lao động, có quyền điều chỉnh và quản lý các thành viên của mình trong các mối quan hệ lao động1.
Theo Luật Lao động của Nauy, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động là bất kỳ liên minh nào của người sử dụng lao động hay của các tổ chức của người sử dụng lao động với mục tiêu là bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động trước người lao động2.
Theo Bộ luật Lao động 2012 của Việt Nam, tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động3.
Giáo trình sử dụng khái niệm: "Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động"4.
Theo khái niệm này có thể thấy:
Tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động có chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Tổ chức đại diện được gọi tên Hiệp hội người sử dụng lao động ngành hoặc là tổ chức đại diện cho các hiệp hội. Ở Việt Nam tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam.
Việc xác lập các tổ chức đại diện người sử dụng lao động cũng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do liên kết.
1 Hàn Quốc, Luật Công đoàn và điều chỉnh quan hệ lao động, 1997, Điều 2.
2 Nauy, Luật Lao động, 1981, Điều 1.
3 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Lao động 2012, Điều 3.
4 Lưu Bình Nhưỡng, Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 97.
Tổ chức đại diện người sử dụng lao động phải thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật để được thừa nhận.
3.3.2.2. Vai trò và chức năng của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động
Vai trò của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động
- Là một bên của quan hệ lao động, đại diện cho những người sử dụng lao động nhằm đi đến sự thống nhất quan điểm về vấn đề sử dụng lao động với tổ chức đại diện cho người lao động. Vấn đề họ bàn bạc là tiêu chuẩn lao động của ngành, trên cơ sở đó mới hình thành nên tiêu chuẩn lao động doanh nghiệp;
- Là cầu nối giữa hai bên: người lao động và người sử dụng lao động trong các quan hệ cụ thể, trong cả cơ chế hai bên, ba bên để hướng tới tăng cường đối thoại xã hội và cùng thống nhất đi đến quyết định về các vấn đề của lao động;
- Là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác trong lao động và trong quá trình sản xuất xã hội cũng như quá trình hợp tác quốc tế về lao động;
- Là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi cần thiết và hợp pháp để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên của mình đồng thời bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật lao động.
Chức năng của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động
- Chức năng đại diện: Là người đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho người sử dụng lao động, sự tham gia của tổ chức này trong các hoạt động đối thoại xã hội của cơ chế hai bên, ba bên sẽ góp phần ngăn ngừa và giải quyết các xung đột, bất đồng trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung, các ngành nghề và doanh nghiệp nói riêng. Cụ thể tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động sẽ đại diện cho người sử dụng lao động: tham gia ý kiến đối với chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước về lao động; sửa đổi, bổ sung các chế độ chính sách về lĩnh vực lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; cải cách thủ tục hành chính trong quản lý lao động; đề xuất các biện pháp giải quyết các cuộc đình công liên quan đến nhiều người lao động; tham gia, báo cáo thực hiện các Công ước của Tổ chức Lao động
quốc tế; những vấn đề khác theo yêu cầu của Chính phủ và các bên theo quy định của pháp luật.
- Chức năng bảo vệ: Tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động thực hiện chức năng bảo vệ được thể hiện ở hai phương diện cơ bản. Thứ nhất, thực hiện hoạt động bảo vệ thông qua tham gia hoạch định chính sách, pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các thành viên là người sử dụng lao động, giúp phòng ngừa rủi ro mang tính chiến lược và lâu dài. Thứ hai, thực hiện hoạt động bảo vệ một cách trực tiếp, hoạt động này được thực hiện khi có yêu cầu hoặc khi tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động thấy cần thiết.
- Chức năng liên kết: Đây là chức năng giúp đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng lao động khi mong muốn có tổ chức đại diện cho mình. Thông qua chức năng liên kết của tổ chức đại diện, người sử dụng lao động sẽ có thêm sức mạnh thông qua sự tập hợp về số lượng, về trí tuệ và các yếu tố khác.
Chức năng liên kết này được thể hiện ở cả 2 khía cạnh: liên kết bên trong và liên kết bên ngoài. Trong đó, liên kết bên trong được thực hiện giữa các thành viên sử dụng lao động, giúp tạo nội lực và bản sắc riêng của tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Liên kết bên ngoài là việc tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động liên kết với các chủ thể khác, đặc biệt là Nhà nước, tổ chức công đoàn (tổ chức đại diện cho người lao động). Sự liên kết bên ngoài giúp tổ chức này có các cơ hội tiếp cận các nguồn lực, giải quyết các vấn đề trước mắt và lâu dài liên quan đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức nói chung và từng thành viên nói riêng. Ví dụ về mối quan hệ giữa tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn được thể hiện ở việc cùng nhau xây dựng các thỏa thuận khung hoặc thỏa thuận chi tiết về các vấn đề của điều kiện lao động, vệ sinh lao động, an toàn lao động,… hoặc cùng chia sẻ kinh nghiệm, cùng hợp tác để giải quyết các vấn đề của quan hệ lao động. Còn liên kết với Nhà nước thường được thể hiện trong cơ chế ba bên với mục đích xúc tiến các hoạt động vì môi trường lao động văn minh, chuyên nghiệp, hiệu quả dựa trên quan hệ lao động lành mạnh.
Cho dù ở khía cạnh nào, việc liên kết luôn phải chú ý đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện và đảm bảo tính hiệu quả. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động có quyền tự tổ chức, tập hợp, bảo vệ các tài sản của tổ chức.
3.3.2.3. Năng lực của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động Năng lực của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động được thể hiện ở hai khía cạnh chính đó là:
- Năng lực của cán bộ tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động, ví dụ cán bộ Hiệp hội. Năng lực của đội ngũ cán bộ Hiệp hội rất quan trọng đối với vai trò đại diện và bảo vệ của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động.
Năng lực của các cán bộ Hiệp hội được thể hiện qua phong cách làm việc, tác phong, thái độ đối với công việc (đam mê, quyết tâm, thích thú);
năng lực tư vấn pháp luật, chính sách cho hội viên; năng lực điều hành;
năng lực tổ chức; mức độ am hiểu thực tiễn đặc thù của nền kinh tế quốc gia, các ngành, lĩnh vực hoạt động; kinh nghiệm làm việc.
- Năng lực tổ chức hoạt động, cách thức tổ chức của Hiệp hội cũng đóng vai trò quan trọng trong hình thành và nâng cao năng lực của tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động. Năng lực này được thể hiện qua một số biểu hiện cụ thể như: năng lực để tồn tại, năng lực tổ chức, năng lực quan hệ với các đối tác tổ chức khác và vận động nguồn lực, năng lực thực hiện, năng lực thích ứng và phát triển.
3.3.2.4. Một số tổ chức đại diện người sử dụng lao động
Các quốc gia trên thế giới hầu như đều có tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động cả cấp quốc gia, cấp ngành và cấp địa phương.
Ví dụ, theo các quy định hiện hành ở Việt Nam tổ chức đại diện người sử dụng lao động hiện nay gồm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA).
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là "tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam". Đây là tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận, có tư cách pháp nhân và tự chủ về tài chính.