CƠ CHẾ TƯƠNG TÁC TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
4.1. Khái niệm và các loại cơ chế tương tác trong quan hệ lao động
Theo Từ điển Tiếng Việt, "cơ chế" là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện"1. Tương tự, các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng "cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện".
Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm "cơ chế". Trong cuốn "Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO" các nhà khoa học cho rằng "cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng"2. Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn "Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức thương mại thế giới - World Trade Organization" đó là nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của
1 Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học 1998, tr. 207.
2 Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO, NXB Chính trị quốc gia 2004, tr. 58.
sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng1.
Như vậy, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế đó là yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề cập đến các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức (cơ cấu) và cách thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa họ) trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành và nội dung hoạt động của cơ chế2. Từ quan điểm tiếp cận đó, xem xét trong lĩnh vực quan hệ lao động ta thấy trước hết yếu tố tổ chức và yếu tố hoạt động đã được xác lập cùng với các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động ở các cấp vì vậy có thể xác định:
Cơ chế tương tác trong quan hệ lao động là hệ thống các yếu tố tạo cơ sở, đường hướng hoạt động cho các chủ thể quan hệ lao động và quá trình tương tác giữa các chủ thể đó.
Như vậy, cơ chế tương tác tạo ra "luật chơi" cho các chủ thể và quá trình tương tác giữa các chủ thể trong quan hệ lao động. Sự vận hành của cơ chế nhằm tìm kiếm những giải pháp chung cho các vấn đề thuộc lĩnh vực quan hệ lao động mà các bên cùng quan tâm, vì lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung của của xã hội bằng những hình thức phù hợp với điều kiện môi trường.
4.1.2. Các loại cơ chế tương tác
Trong lịch sử ra đời và phát triển của khoa học quan hệ lao động, thì phân loại cơ chế tương tác của quan hệ lao động thực chất là xem xét bản chất loại cơ chế tương tác đó được tiếp cận dựa trên việc nghiên cứu, thiết lập và xử lý quan hệ lao động tập trung vào mối quan hệ giữa bao
1 Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới (2006) - World Trade Organization, NXB. Lao động Xã hội.
2 Nguyễn Xuân Thu (2009), Bàn về khái niệm cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động.
nhiêu chủ thể và đó là các chủ thể nào? Xuất phát từ số lượng cũng như các chủ thể quan hệ lao động đã được giới thiệu và phân tích tại Chương 3 thì chỉ có hai cách tiếp cận để hình thành nên các loại cơ chế tương tác đó là:
Cách thứ nhất, phương pháp tiếp cận dựa trên việc nghiên cứu và ứng dụng để giải quyết một nội dung cụ thể trong quan hệ lao động giữa hai chủ thể đó là người lao động và người sử dụng lao động. Ở cách tiếp cận này cơ chế tương tác hai bên được hình thành. Trong cơ chế hai bên chỉ có hai đối tác là người lao động và người sử dụng lao động cũng như sự tương tác tay đôi giữa họ được diễn ra, ở đó chưa xuất hiện đối tác thứ ba là Nhà nước. Thực tế cũng cho thấy rằng, khi giải quyết tốt quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động thì không chỉ nâng cao điều kiện làm việc và sinh hoạt cho người lao động mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng như toàn xã hội.
Cách thứ hai, phương pháp tiếp cận dựa trên việc nghiên cứu và ứng dụng để giải quyết các nội dung cụ thể trong quan hệ lao động giữa ba chủ thể (người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước). Ở cách tiếp cận này cơ chế tương tác ba bên được hình thành. Như đã biết ở chương 1, mối quan hệ tương tác giữa người lao động và người sử dụng lao động bị chi phối bởi lợi ích của mỗi bên, do vậy không thể tránh được nguy cơ: những xung đột về lợi ích không thể dàn xếp được sẽ gây ra những bất ổn và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế xã hội và các nỗ lực nhằm tối đa hoá tổng lợi ích của hai đối tác này có thể tạo ra những ảnh hưởng không tốt cho cộng đồng như: ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, suy giảm lợi ích quốc gia và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của toàn xã hội. Do vậy, cần thiết phải có sự xuất hiện của bên thứ ba - đại diện và bảo vệ cho lợi ích quốc gia, lợi ích của toàn xã hội đó là nhà nước. Thực tế phát triển quan hệ lao động trên thế giới cho thấy ở tất cả các quốc gia, nhà nước không thể đứng ngoài "cuộc chơi" tay đôi giữa người lao động và người sử dụng lao động. Từ đó hình thành một "cuộc chơi" mới gồm ba "người chơi" là: nhà nước, người lao động, người sử dụng lao động. Các lý thuyết hiện đại về quan hệ lao động đều dành sự quan tâm đặc biệt cho mối quan hệ ba bên này. Mối quan hệ ba bên này cũng là nguyên tắc hoạt động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế.
Tóm lại, có hai loại cơ chế tương tác trong quan hệ lao động đó là cơ chế hai bên và cơ chế ba bên, được coi là công cụ để thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa hai bên và chủ nghĩa ba bên trong tiếp cận quan hệ lao động.