CƠ CHẾ TƯƠNG TÁC TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
4.3. Cơ chế ba bên trong quan hệ lao động
Cũng như chủ nghĩa hai bên, chủ nghĩa ba bên không mang màu sắc chính trị, và cũng cần có công cụ đặc thù để đạt tới các mục tiêu công bằng và phát triển bền vững của xã hội. Giống như cơ chế hai bên, cơ chế ba bên được xem như công cụ thực hiện chủ nghĩa ba bên, nhằm đạt mục đích là sự hài hoà về lợi ích của các đối tác xã hội trên cơ sở đảm bảo lợi ích chung của xã hội.
Theo David Macdonald và Caroline Vandenabeele trong "Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm liên quan" đã đưa ra định nghĩa cơ chế ba bên như sau: "Cơ chế ba bên là sự tương tác tích cực của Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động (qua các đại diện của họ) như là các bên bình đẳng và độc lập trong các cố gắng tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề cùng quan tâm. Một quá trình ba bên có thể bao gồm việc tham khảo ý kiến, thương thuyết và/hoặc cùng ra quyết định, phụ thuộc vào cách thức đã được nhất trí giữa các bên liên quan. Những cách thức này có thể là đặc biệt theo từng vụ việc hoặc được thể chế hoá". Trong khái niệm này, sự tương tác tích cực có nghĩa là các bên phải xuất phát từ thiện chí, đặt quan hệ lợi ích của bên mình trong mối quan hệ hài hoà
về lợi ích của các bên liên quan và của toàn xã hội một cách chủ động;
Các bên bình đẳng, độc lập được hiểu là đại diện của người sử dụng lao động và đại diện của người lao động phải nhận được thái độ đối xử công bằng từ phía nhà nước. Mọi hành động hay thái độ thiên vị, chi phối, ép buộc đối với một tổ chức đại diện nào đó cũng được coi là ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của cơ chế ba bên; Và cách thức đã được nhất trí giữa các bên chính là cách thức tương tác để tìm giải pháp của vấn đề cùng quan tâm được coi là điều kiện tiên quyết của cơ chế ba bên. Tuy nhiên, đây là sự nhất trí về cách thức tương tác chứ không phải nhất trí về giải pháp1.
Tác giả Phạm Công Trứ (1997) cho rằng, bằng việc kí kết các hợp đồng lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động hình thành nên quan hệ lao động cá nhân - hạt nhân của cơ chế hai bên truyền thống. Sau đó bằng việc thực hiện quyền tự do liên kết các tổ chức của cả phía người lao động và người sử dụng lao động được hình thành.
Ở tầm quốc gia, đại diện của tổ chức này cùng với đại diện của Nhà nước có mối quan hệ với nhau để cùng bàn bạc và giải quyết những vấn đề có liên quan trong lĩnh vực lao động và xã hội. Trên cơ sở và khuôn khổ của mối quan hệ này hình thành một cơ chế mang tính pháp lí quốc tế, đó là cơ chế ba bên2. Thống nhất với ý kiến trên, tác giả Đào Thị Hằng (2005) cho rằng cơ chế ba bên được hiểu là cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước, đại diện người lao động, đại diện người sử dụng lao động với tư cách là các bên độc lập và bình đẳng khi họ cùng tìm kiếm những giải pháp chung trong các vấn đề lao động, xã hội mà cả ba bên cùng quan tâm và nỗ lực giải quyết3.
Tổng giám đốc ILO trong báo cáo tại kì họp thứ 79, năm 1992, đã xây dựng một định nghĩa có tính chính thống của ILO về cơ chế ba bên đó là: "Cơ chế ba bên có nghĩa là bất kỳ hệ thống các mối quan hệ lao
1 Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình quan hệ lao động, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. 142.
2 Phạm Công Trứ (1997), Cơ chế ba bên trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 01 năm 1997.
3 Đào Thị Hằng (2005), Cơ chế ba bên và khả năng thực thi trong pháp luật lao động Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 01/2005.
động nào, trong đó Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động là những nhóm độc lập, mỗi nhóm thực hiện những chức năng riêng. Điều đó chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi thành các mối quan hệ xã hội của các nguyên tắc dân chủ chính trị: tự do, đa số, sự tham gia của mỗi cá nhân vào những quyết định có liên quan tới họ. Nguyên tắc là những vấn đề chung nhưng cũng không có một đối tác đơn lẻ: Mỗi hệ thống quan hệ lao động được dựa trên sự kết hợp của các điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội và văn hoá và mỗi hệ thống phát triển theo những nguyên tắc của cuộc chơi dưới ánh sáng của những thông số đó"1.
Tác giả Nguyễn Xuân Thu (2009) đưa ra cách hiểu về cơ chế ba bên khá cụ thể: cơ chế ba bên là quá trình phối hợp giữa Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động (thông qua các tổ đại diện chính thức của họ) bằng những hình thức phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và pháp lí… nhằm tìm kiếm những giải pháp chung cho các vấn đề thuộc lĩnh vực lao động - xã hội, trước hết là các vấn đề thuộc mối quan hệ lao động mà cả ba bên cùng quan tâm, vì lợi ích của mỗi bên, lợi ích chung của ba bên và lợi ích chung của xã hội2.
Tất cả các khái niệm và quan điểm trên đây đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập tới các nội dung: bản chất, các đối tác xã hội, phạm vi hoạt động và sự vận hành của cơ chế ba bên. Liên hệ với khái niệm "cơ chế"
đã đề cập ở trên, các khái niệm và quan điểm về cơ chế ba bên cũng đã thể hiện được hai yếu tố cấu thành cơ bản: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Cơ cấu ba bên được tạo thành bởi ba "đối tác xã hội" đó là nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động (thông qua cơ quan, tổ chức đại diện của mỗi bên). Quá trình vận hành của cơ chế ba bên chính là quá trình hợp tác giữa ba đối tác xã hội trong việc nỗ lực tìm kiếm các giải pháp chung cho các vấn đề mà cả bên cùng quan tâm trong lĩnh vực lao động - xã hội. Từ những phân tích, đánh giá trên đây, có thể rút ra khái niệm sau:
1 Báo cáo tại kì họp thứ 79 năm 1992 của Tổng Giám đốc ILO, Dân chủ hoá và tổ chức của ILO.
2 Nguyễn Xuân Thu (2009), Bàn về khái niệm cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động.
Cơ chế ba bên trong quan hệ lao động là hệ thống các yếu tố tạo cơ sở, đường hướng hoạt động cho ba chủ thể trong quan hệ lao động bao gồm nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động thông qua các tổ đại diện chính thức của họ và quá trình phối hợp giữa các chủ thể đó.
Sự vận hành của cơ chế ba bên nhằm tìm kiếm những giải pháp chung cho các vấn đề thuộc lĩnh vực quan hệ lao động mà cả ba bên cùng quan tâm, vì lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung của xã hội.
Xét ở khía cạnh lịch sử, cơ chế ba bên ra đời được xem như một hiện tượng tự nhiên và tất yếu và được chấp nhận từ thực tiễn đời sống khi nền công nghiệp trên thế giới phát triển đến một giai đoạn nhất định - giai đoạn quan hệ lao động làm công ăn lương phát triển mạnh mẽ và được các nhà nước công nhận. Và ILO ra đời và phát triển chính là hiện thân của cơ chế ba bên và mọi nỗ lực của tổ chức này đều hướng tới một nền dân chủ thực sự, đặc biệt là dân chủ trong quan hệ lao động. ILO được thiết lập theo mô hình cơ chế ba bên. Hoạt động của ILO cũng chính là sự tương tác giữa ba đối tác xã hội ở tầm quốc tế, từ đó khuyến khích các quốc gia thành viên vận dụng và tích cực sử dụng cơ chế này trong việc điều chỉnh quan hệ lao động, tạo lập môi trường lao động hài hoà, bình ổn và phát triển kinh tế - xã hội ở cấp quốc gia. Cho đến nay với lịch sử hàng trăm năm, cơ chế ba bên đã khẳng định được vai trò của mình trong đời sống lao động, xã hội. Thực hiện cơ chế ba bên đang trở thành nguyên tắc quan trọng trong việc hoạch định các chính sách kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia vì mỗi chính sách, quy định, quyết định của nhà nước được ban hành đều ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi bên, do vậy sẽ làm thay đổi sự cân bằng về lợi ích trong xã hội, làm nảy sinh các mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động không thể tách rời khỏi bên thứ ba - nhà nước vì các lý do:
quan hệ lao động luôn tiềm ẩn các vấn đề mà hai bên không thể đi đến sự nhất trí chung, sự phản kháng khi ấy sẽ tạo ra bất ổn trong xã hội; Sự tương tác của hai bên có thể ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến lợi ích chung của toàn xã hội. Do vậy, nếu không có cơ chế ba bên, không thể đảm bảo được sự cân bằng về lợi ích cũng như phát triển bền vững của xã hội.
Tại các nước phát triển, cơ chế ba bên đang hoạt động rất hiệu quả và được coi là yếu tố không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế và ổn định trật tự xã hội. Ở các quốc gia phát triển, cơ chế ba bên xuất hiện với tư cách là một hiện tượng khách quan và được chấp nhận như là một phương thức cốt yếu cho việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội từ hàng trăm năm nay. Với cách thức này, nhà nước không chỉ đứng ở vị trí chủ thể quản lí xã hội để áp đặt quyền lực của mình lên hành vi của các chủ thể khác, mà sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến của các chủ thể khác đã được thực hiện và thực hiện khá hiệu quả; người sử dụng lao động cũng phải thay đổi hành vi ứng xử của mình đối với người lao động; sự tham gia của người lao động vào các công việc chung, trực tiếp quyết định vận mạng của mình được đề cao. Ở các quốc gia Đông Nam Á cơ chế ba bên ra đời muộn hơn (vào khoảng giữa thế kỉ 20) và bắt đầu xuất hiện, được thừa nhận ở Xin-ga-po, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a… Còn ở nước ta, cơ chế ba bên đã được vận dụng trong điều chỉnh pháp luật của chính quyền Việt Nam cộng hoà từ năm 1952. Tuy nhiên, nhà nước Việt Nam mới bắt đầu xem xét, ứng dụng cơ chế này khi ban hành và triển khai thực hiện Bộ luật Lao động 1994. Trong những năm gần đây, các giới có quan tâm đang nỗ lực tìm giải pháp để cơ chế này có thể được hình thành rõ nét và vận hành có hiệu quả hơn vì mục tiêu quan hệ lao động lành mạnh và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, cơ chế ba bên chịu ảnh hưởng bởi chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội, bản sắc văn hoá, phong tục tập quán... ở mỗi quốc gia.
Đặc điểm của cơ chế ba bên trong quan hệ lao động đó là:
Một là, về chủ thể của cơ chế ba bên bao gồm nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động (tham gia thông qua tổ chức đại diện).
Cơ chế ba bên có tính đặc định về chủ thể. Các bên tham gia nhất thiết phải thông qua các tổ chức đại diện. Điều này khác với cơ chế hai bên (trong cơ chế hai bên, khi giải quyết các vấn đề cụ thể đối tác tham gia có thể là cá nhân người lao động hay người sử dụng lao động). Cơ chế ba bên chủ yếu tồn tại và vận hành ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, đôi khi vận hành ở cấp ngành, địa phương, không tồn tại cơ chế ba bên ở cấp doanh nghiệp.
Thứ hai, về vấn đề giải quyết trong cơ chế ba bên là các định hướng chính sách, các tiêu chuẩn lao động chứ không phải là các vấn đề cụ thể tại nơi làm việc. Những vấn đề được cả ba bên cùng quan tâm giải quyết đó là: mức lương tối thiểu vùng, điều kiện làm việc tối thiểu, thời gian làm việc tối đa, quy trình giải quyết tranh chấp lao động, trình tự đình công... Ở cấp ngành, địa phương những vấn đề giải quyết bằng cơ chế ba bên đó là các tiêu chuẩn lao động ngành, địa phương.
Thứ ba, về tần suất hoạt động của cơ chế ba bên mang tính định kỳ là chủ yếu. Bởi vì các vấn đề giải quyết là những vấn đề lớn có ảnh hưởng trong phạm vi ngành, địa phương hoặc quốc gia vì vậy không thể mang ra bàn thảo thường xuyên mà cần có tính ổn định tương đối. Ví dụ, định kỳ cứ 1 - 2 năm một lần cơ chế ba bên hoạt động để xác lập mức lương tối thiểu mới, còn trong trường hợp các yếu tố tác động đến cuộc sống người lao động (chỉ số giá tiêu dùng tăng quá nhanh, tỷ lệ lạm phát phi mã...) có sự chuyển biến lớn thì cơ chế đột xuất sẽ được vận hành.
Thứ tư, các bên trong cơ chế ba bên không hoàn toàn bình đẳng. Chỉ có sự bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động. Người quyết định cuối cùng luôn là nhà nước. Ở một góc độ nào đó, trong cơ chế tương tác quan hệ lao động nhà nước phải chấp nhận "chuyển" một phần quyền lực của mình sang cho các đối tác xã hội khác. Về phía người sử dụng lao động, trở thành một đối tác bình đẳng với người lao động cũng có nghĩa người sử dụng lao động chia sẻ một phần quyền lực của mình cho người lao động. Nhìn từ góc độ này, nhà nước sẽ không
"một mình" hoạch định, ban hành chính sách, pháp luật về quan hệ lao động. Người sử dụng lao động cũng sẽ không hành xử theo lối áp đặt quyền lực của mình cho người lao động. Những vấn đề liên quan đến ba bên do ba bên cùng trao đổi, bàn bạc và quyết định. Tuy nhiên, trong mối quan hệ đó người sử dụng lao động và người lao động không thể được đứng vào vị trí hoàn toàn bình đẳng với nhà nước bởi bao giờ nhà nước cũng đứng ở vị trí người có quyền lực tối cao trong việc quản lí xã hội, cho dù nhà nước đang đóng tư cách là một "đối tác" trong đối thoại xã hội. Tổng thống Boris Elsin của Nga đã có một câu nói rất nổi tiếng: "Tôi không phản đối quan hệ đối tác xã hội, nhưng đừng quên ai ở đây là chính. Rõ ràng là rất khó để nhà nước nhân nhượng và chấp nhận
nguyên tắc bình đẳng. Bao giờ nhà nước cũng thiên về giữ vị trí chuyên quyền trong quan hệ đối tác xã hội. Tiếp đến là những ông chủ, những người sử dụng lao động, bao giờ họ chả bảo vệ tiền vốn của mình, vì khao khát lợi nhuận, dễ gì họ cảm thông san sẻ với người lao động."1
4.3.2. Điều kiện vận hành cơ chế ba bên
Cơ chế ba bên chỉ có thể tồn tại và vận hành có hiệu quả khi hội đủ các điều kiện sau:
Một là, tồn tại nền kinh tế thị trường có thị trường lao động hình thành và phát triển theo đúng quy luật. Trên thị trường lao động, người lao động và người sử dụng lao động vừa hợp tác vừa xung đột với nhau về lợi ích. Và cũng trên thị trường đó những khiếm khuyết mang tính cố hữu của thị trường lao động (tính độc quyền, tính cạnh tranh bất bình đẳng...) có thể xuất hiện bất cứ lúc nào khiến cho cần có sự xuất hiện của nhà nước với mục đích cân bằng sự bất hợp lý trên thị trường này. Cơ chế ba bên chỉ có thể hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trường - cơ chế kinh tế gắn liền với tự do và dân chủ trong khuôn khổ pháp luật.
Hai là, có sự độc lập tương đối giữa các bên đối tác xã hội nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động. Một môi trường dân chủ luôn được coi là cơ sở cho sự phối hợp hiệu quả giữa các bên. Khi đó, mỗi bên vừa tôn trọng ý kiến của các đối tác, vừa có đủ điều kiện để đưa ra và bảo vệ những yêu cầu, nguyện vọng của mình. Theo quan niệm truyền thống, quan hệ lao động là quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động. Với quan niệm này, quan hệ lao động sẽ được thiết lập và duy trì trên cơ sở các quy định của pháp luật. Nhà nước có thể áp đặt hay chấp nhận quyền tự do thoả thuận của các bên ở một giới hạn nhất định. Chẳng hạn, pháp luật lao động của Nhà nước có thể sẽ có những quy định không hợp lý, không thực sự vì quyền lợi chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động. Từ đó tính khả thi sẽ giảm, ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể quan hệ lao động sẽ hạn chế và hậu quả cuối cùng là hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực lao động sẽ không cao - điều mà nhà
1 Nguyễn Xuân Thu (2009), Bàn về khái niệm cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động.