MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ “DẠY CÁCH HỌC”
1. Cách tiếp cận và quan niệm về học
Ở chương II đã nêu 3 cách tiếp cận về học; thứ nhất:
quan tâm đến kết quả cuối cùng; thứ hai: quan tâm đến quá
trình học; thứ ba: mô hình quá trình thông tin. Trong
chương TV này, cách tiếp cân về học chủ yếu là theo cách thứ ba: mô hình quá trình thông tin. “Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình
bằng cách xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung
quanh minh”.
a. Cách tiếp cận uà quan niệm uiệc học của học sinh,
sinh vién
¢ Hoc sinh, sinh uiên tiếp cận uà quan niệm uiệc học của.
họ như thế nào
Học sinh, sinh viên có hai cách tiếp cận chủ yếu: “bề
mặt” và “chiều sâu”.
— Cách tiếp cận “bể mặt”, chỉ dựa vào những ý đồ mang tính chất bên ngoài của mục đích thực sự, gây cảm giác là
có học. Ví dụ, học để lấy điểm, để nộp bài... mà không thực
sự tìm cách hiểu kỹ, hiểu sâu nội dung, không tìm cách liên
hệ nội dung học vào những hoàn cảnh khác nhau cho nên chóng quên. Học sinh, sinh viên hay nhìn vấn để học theo
cách định lượng (số giờ học, số môn, số điểm...). Họ quan
niệm: học là chiếm lĩnh thông tin càng nhiều càng tốt; học
là ghi nhớ. lặp lại và thuộc lòng những mẩu kiến thức tách biệt nhau v.v...
Ổ đây, ý đổ học của họ là chỉ nhằm hoàn thành “nhiệm
(1) Theo Michel Develay: Peut on former les enseignants? ESF éditeur. Paris. 1994.
210
oựụ”, vì vậy họ chỉ tập trung vào những “dấu hiệu” (nghĩa là vào những chữ và câu của bài, hoặc vào những công thức cần thiết) để giải quyết vấn để, mà không suy nghĩ:
+ Tập trung vào những phần không có liên hệ gì với
nhau của nhiệm vu; -
+ Chú ý nhớ những thông tin liên quan đến kiểm tra, đánh
giá;
+ Kết nối những sự kiện với những quan niệm một cách hời hợt, thiếu suy nghĩ kỹ;
+ Không phân biệt được những nguyên tắc với những ví
dụ; + Giải quyết nhiệm vụ như giải quyết một sự áp đặt từ
bên ngoài.
Trong cách tiếp cận này nổi lên sự tác động từ bên ngoài đối với người học như: những yêu cầu đánh giá;
những yêu cầu về kiến thức đơn thuần, thường hay tách rời thực tiễn hàng ngày.
- Cách tiếp cận “chiều sâu”, dựa vào nguyên tắc khai
thác tối đa việc học. Người học khai thác thông tin với nhận
thức ở trình độ cao, tìm hiểu ý tưởng chính, chuyển hóa
hoặc cấu trúc lại những kiến thức đã có, nhờ đó có thể hiểu
kỹ hơn và giải thích rõ hơn tài liệu đang nghiên cứu, xem xét nó không chỉ theo một hướng mà vài hướng. Tất nhiên
họ sẽ được điểm cao. Đây là cách tiếp cận “hiểu sâu, nhớ
lâu”, chú trọng mặt chất lượng của uiệc học. Họ quan niệm:
học là quá trình trừu tượng hóa, định lượng, định giá trị, là
hiểu bản chất của sự vật và kiểm nghiệm giá trị của sự vật
trong thực tiễn; học là tạo ra sự biến đổi về nhận thửc để
hiểu biết thế giới bằng cách lý giải và thông hiểu thực tiễn;
211
học là biến đổi con người: học để nên người, học để làm
người.
Ý đồ học ở đây là phải thue suv hiểu, vì vậy họ tập trung
vào câu hỏi về "có ý nghĩa gì” (tức là: lập luận của tác giả là
gì? Hoặc những quan niệm nào là ứng dụng được để giải quyết vấn để?):
+ Liên hệ kiến thức đã biết từ trước với kiến thức mới;
+ Liên hệ những kiến thức đã được nêu ở những giáo
trình khác nhau;
+ Liên hệ những ý tưởng có tính lý thuyết với những kinh nghiệm hàng ngày;
+ Liên hệ và phân biệt sự “hiển nhiên” và sự “lập luận”;
+ Tổ chức và cơ cấu toàn bộ nội dung để tạo thành một
tổng thể gắn bó.
Trong cách tiếp cận này nổi lên sự tác động từ bên trong người học như một sự đòi hỏi “mở cửa sổ”, thông qua nó mà những khía cạnh của thực tiễn trở thành thấy được và hiểu
được rõ hơn.
b. Học nên được hiểu như thế nào
ết hợp tổng thể cả hai cách tiếp cận và quan niệm
trên, ta có thể xác định việc học như là một quá trình thu nhận, ghi nhớ, tích luỹ, sử dụng, liên kết, lý giải và xử lý thông tin, giải quyết uấn đề. Đó là cách tiếp cận việc học theo mô hình quá trình thông tin, dẫn đến một định nghĩa có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn thực hành sư
phạm:
“Học, cốt lõi là £ự học. là quá trình phát triển nội tai,
trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong
phỳ giỏ ¿rị con người mỡnh bằng cỏch thu nhận, xử lý ¿ằụng tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình”.
Nói khái quát hơn, mọi sự gia tăng giá trị của con người (giá trị trí tuệ, đạo đức, tình cảm, thể chất, mỹ cảm...) có thể coi là kết quả của oiệc học trong những môi trường nhất định. Do đó, ý nghĩa của việc học, của việc hiểu thế nào là học có một phạm vi rất rộng. Chính ý nghĩa rộng rãi này về “học” ngày nay được hiểu một cách thống nhất
trong “giáo dục nhà trường” và “giáo dục bên ngoài nhà
trường”. Cách học và cách dạy nói đến.ở chương IV này chủ yếu là đành cho “giáo dục nhà trường” và có phần thiên về
giá trị của mặt nhận thức (cognitive aspect). Nó cũng được
hiểu tương tự cho giáo dục bên ngoài nhà trường.