Giúp học sinh, sinh viên tự học có hiệu quả

Một phần của tài liệu Phương pháp học và dạy cách học (Tái bản): Phần 2 (Trang 118 - 126)

VỀ “DẠY CÁCH HỌC”

N. F Vôvôdenxki đã vạch ra những điểu kiện để đảm bảo

9. Giúp học sinh, sinh viên tự học có hiệu quả

6 đây, chủ yếu chúng tôi nói đến một số cách dạy, cách

làm việc của giáo viên để giáo viên vượt qua những thách thức thường gặp và giúp học sinh, sinh viên tự học có hiệu

quả:

— Nói rõ cho học sinh, sinh viên biết những mong đợi của nhà trường, của giáo viên đối với họ;

~ Thu thập những phản hồi từ phía học sinh, sinh viên;

~ Làm việc theo nhóm nhỏ;

~ Thực hiện phương pháp học kiểu “xâu chuỗi”.

a. Nói rõ những mong đợi đối uới sinh uiên

Thây trò khi bắt đầu việc dạy và việc học đều có những

mong đợi đối với nhau. Nếu có những điều không hiểu nhau

trong những mong đợi này thì hiệu quả dạy và học sẽ kém

đi đáng kể.

Vì vậy giáo viên cần nói cho sinh viên biết những mong đợi của nhà trường, của giáo viên đối với việc học của sinh viên và tạo điều kiện cho thầy và trò giao lưu với nhau, đồng thời cũng giúp cho giáo viên hiểu được những mong

đợi của sinh viên đối với giáo viên, qua đó sẽ bớt đi hoặc xóa hẳn những điều không hiểu nhau.

Làm như thế nào?

Tuy giáo viên có thể làm đối với từng cá nhân sinh viên,

nhưng tốt hơn vẫn là làm đối với nhóm nhỏ, tạo điều kiện

trao đổi ý kiến trong nhóm. Có thể làm như sau:

— Hướng dẫn sinh viên suy nghĩ cá nhân xem mình mong đợi gì ở giáo viên và mong được xem giờ học sẽ diễn ra

như thế nào?

~ Bố trí sinh viên thành nhóm nhỏ để trao đổi với nhau

về những mong đợi của việc học và lập danh sách những mong đợi được mọi thành viên của nhóm chấp nhận;

— Tổ chức để mỗi nhóm báo cáo cho cả lớp nghe những

mong đợi của nhóm mình. Khuyến khích cả lớp thảo luận về

những vấn để nẩy sinh. Vào lúc thích hợp, giáo viên sẽ nói rõ để sinh viên biết mình sẽ đáp ứng những mong đợi của sinh viên như thế nào, bằng cách trình bày những mong đợi của mình đối với sinh viên. Nếu giáo viên không thể đồng ý

với một vài ý cụ thể mà sinh viên dé ra thì cần cắt nghĩa

cho sinh viên biết vì sao mình không đồng ý, rồi cùng làm

236

việc với sinh viên để giải quyết van dé.

— Ghi lại những chờ đợi mà sinh viên báo cáo để ở học kỳ sau, khi thu thập phần hồi của sinh viên, ta có thé xem những mong đợi của họ đã được đáp ứng như thế nào?

b. Thu thập những phản hồi từ phía sinh vién

Có nhiều cách làm, tùy theo từng trường.

Những phản hồi đem lại cho đội ngũ giáo viên những thông tin bổ ích về những bài giảng, những giáo trình mà giáo viên đã tiến hành đối với sinh viên, do đó giúp cho giáo viên cải tiến những bài giảng, những giáo trình đó.

Như vậy, nếu thu thập được sớm những phản hồi này

trong học kỳ thì giáo viên còn kịp theo dõi, thúc đẩy sự tiến

bộ của sinh viên và điều chỉnh giáo trình trước khi nẩy sinh những vấn đề phải giải quyết.

Việc thu thập phản hồi của sinh viên cần được tiến hành một cách thường xuyên, có nền nếp, nhờ đó sinh viên

có cơ hội được hiểu thực chất của giáo trình môn học và cách thức đáp ứng. Đó là cách tăng cường sự cam kết của

sinh viên đối với môn học và cải thiện chất lượng học tập.

Phương pháp thu thập những phản hồi. Một cách tiếp cận đơn giản là phát cho sinh viên một tờ giấy và yêu cầu ghi trong năm phút những nhận xét về một khía cạnh nào đó của bài giảng. Đó là một cách đễ dàng tìm xem sinh viên đã tiếp nhận bài giảng như thế nào. Nếu giáo viên làm việc

này sớm trong học kỳ thì có thể nói cho sinh viên về một số

quan niệm của họ và có thể điểu chỉnh bài giảng sao cho

sinh viên có thể tham gia có hiệu quả hơn vào bài giảng.

Giáo viên phải rất coi trọng việc chia sẻ những phản hổi với học sinh, sinh viên; cần nói cho học sinh, sinh viên

237

biết về những điều tích cực mà họ đã ghi được và về cách

thức giáo viên xử lý những ý tưởng nay sinh.

Đôi khi cũng nên có một quy trình làm ở nhóm nhỏ để có thể bảo vệ được tính vô danh của những ý kiến từ phía hee sinh, sinh viên và làm cho họ không phải ngần ngại gì.

Một cách làm có thể thực hiện được là:

— Khuyến khích học sinh, sinh viên phản ánh ý kiến cá nhân về bài giảng hoặc chỉ về một khía cạnh riêng biệt của

bài giảng và ghi lại sự cảm nhận của minh;

— Bố trí học sinh, sinh viên thành nhóm nhỏ để chia sẻ với nhau những cảm nhận đó và xác nhận những cẩm nhận

nào đã được nhiều thành viên của nhóm đồng tình;

— Mỗi nhóm báo cáo cho cả lớp nghe những cảm nhận của nhóm. Nếu có ý kiến gì mà học sinh, sinh viên thấy

không tiện báo cáo tại lớp thì giáo viên cho phép làm báo

cáo viết;

— Khi vấn đề đã được nhận biết xong, giáo viên cần bàn

bạc với học sinh, sinh viên để tìm ra một lời giải đáp. Giáo

viên có thể yêu cầu họ làm ngay lập tức, hoặc có thể yêu cầu làm vào một ngày nào đó muộn hơn để cho giáo viên tìm được cách phù hợp để giải quyết;

— Vào một thời gian muộn hơn trong học kỳ, cần thu thập từ phía học sinh, sinh viên những phản hồi về những vấn đề đã được giải quyết tốt như thế nào?

e. Dạy theo nhóm nhỏ

Dạy theo nhóm nhỏ là một trong những hình thức đang được mong đợi nhất ở trường đại học. Đây là cách chuyển

một số việc kiểm tra sang cho sinh viên đảm nhiệm. Làm việc theo nhóm nhỏ cũng có thể có những nhược điểm, ví dụ

238.

có thể không nắm được hướng chính xác của lớp học.

s Quản lý nữ

Để việc quản lý nhóm được thành công, cần phải kế

hoạch hóa tốt trước khi bắt đầu lớp học và phải theo đối sát

việc quản lý nhóm trong suốt thời gian học.

Trong việc kế hoạch hóa, cómột số nội dung chuyên biệt

cần quan tâm như sau:

— Nhóm được hình thành như thế nào? Có lúc chỉ cần giao cho học sinh, sinh viên tự quyết định lấy nhóm của mình, nhưng lại cũng có lúc giáo viên cần để ra một cấu trúc nào đó để các nhóm thực hiện;

— Nhóm cỡ nào thì “uừa”? Giáo viên cần chuẩn bị để có

thể thay đổi kích cõ của phân nhóm cho phù hợp với hoạt

động đã được kế hoạch hóa. Làm việc “tay đôi” là rất bổ ích, khi giáo viên đời hỏi học sinh, sinh viên phải kiểm tra lại sự

hiểu của học sinh, sinh viên khác về những ý tưởng then

chốt; nếu làm việc “tay ba”, thì người thứ ba hoạt động như một quan sát viên và làm báo cáo về quá trình mà hai người kia đã thực hiện. Nếu nhóm gồm năm ngườ: hoặc hơn

thì hiệu quả thường bị giảm đi, vì có ít cơ hội hơn cho sự

tương tác và cũng dễ hơn đối với những cá nhân không

tham gia vào các hoạt động của nhóm.

~ Các đồ đạc bố trí thế nào? Khi sinh viên lầm việc theo nhóm, mỗi người trong nhóm phải có năng lực tiếp xúc bằng mắt với mọi người khác. Để làm được việc này, cần phải bố trí lại đồ đạc theo một cách nào đó; cần dành thời gian để

làm công việc có ý nghĩa này.

~ Bao nhiêu thời gian nên dành cho mỗi hoạt động? Kế hoạch hóa việc sử dụng thời gian trong hoạt động của nhóm

239

nhỏ phải được coi trọng như đối với các hình thức giảng dạy khác.

s Quản lý quá trùnh hoạt động nhóm

Để hoạt động của nhóm nhỏ có h quả, cần phải:

~ Cho học sinh, sinh viên biết một cách tổng quất về

buổi học, về cách sử dụng thời gian ở lớp như thế nào? Điều này cho họ một cảm nhận rõ ràng hơn về mục đích của

những hoạt động khác nhau và những hoạt động này liên

hệ với nhau như thế nào.

~ Giải thích mục đích của từng hoạt động. Những hoạt động nhóm thường có vẻ thiếu mục đích rõ ràng và có thể dẫn đến những cuộc nói chuyện thiếu mục đích. Làm cho mục đích của hoạt động trở thành tường minh sẽ giúp cho học sinh, sinh viên tập trung hơn và giáo viên đánh giá

được hiệu quả của hoạt động đối với việc học của họ.

~ Có những hướng dẫn cụ thể. Những điều hướng dẫn

cho nhóm cần phải tường minh và phải viết dưới dạng câu hỏi, nhằm bảo đảm rằng mỗi người cũng đã hiểu những điểu hướng dẫn. Viết những hướng dẫn lên bằng hoặc qua đèn chiếu “giấy trong” một cách dễ đọc, trên cơ sở đó học sinh, sinh viên cam kết trách nhiệm của mình trong nhiệm vụ chung.

— Xác định thời gian cho mỗi hoạt động. Thông báo cho học sinh, sinh viên biết họ có được bao nhiêu thời gian cho từng hoạt động và cho việc điểu khiển tiến trình. Điều chỉnh lượng thời gian cho phép khi thấy cần.

~ Hướng dẫn học sinh, sinh viên làm kế hoạch về việc cần ghi những điểm gì trong thời gian hoạt động. Nhiều

sinh viên coi hoạt động nhóm là cơ hội để không phải ghi và

240

sau hoạt động, họ không ghi lại những gì đã diễn ra trong

nhóm. Hoạt động nhóm có thể cung cấp những ý tưởng

quan trọng và nhiều ý tưởng có thể sẽ bị quên đi nếu họ không ghi lại.

— Cuối buổi hoạt động nhóm, cần tạo cơ hội cho học sinh, sinh viên củng cố việc học; có thể yêu cầu họ viết một đoạn tóm tắt những điều gì đã học được, hoặc cắt nghĩa cho một đối tác những điều đã học được.

— Khi có điều kiện, giáo viên nên tham gia vào hoạt

động nhóm. Điều này mang lại cho giáo viên những phản

hồi về những hoạt động này diễn ra tốt như thế nào và học

sinh, sinh viên đã hiểu tài liệu như thế nào. Tuy nhiên,

giáo viên cũng đừng bị lôi cuốn sâu vào việc của từng nhóm cụ thể và phải chú ý là học sinh, sinh viên không dựa vào giáo viên để hoạt động như người lãnh đạo của một nhóm hoặc như một chuyên viên về chủ để đang xem xét.

d. Thực hiện phương pháp học theo hiểu “xâu chuỗi”

Phương pháp này có ý nghĩa là mỗi học sinh, sinh viên chỉ làm việc ở một bộ phận, ở một khâu của nhiệm vụ học tập chung và làm việc với học sinh, sinh viên khác để kết

hợp các bộ phận khác nhau lại, từ đó hoàn thành đầy đủ

nhiệm vụ học. Phương pháp này đồi hỏi cả hoạt động cá nhân, cả hoạt động nhóm. Phương pháp này có hiệu quả cao vì nó đồi hỏi học sinh, sinh viên phải làm việc trên một

phần của chủ để với yêu cầu là phải biết giải thích cho

người khác. Quá trình giải thích cho người khác mang lại hiệu quả lớn cho chất lượng học của người giải thích.

Phương pháp học theo kiểu “xâu chuỗi” này (gọi tắt là

phương pháp “xâu chuỗi”) được sử dụng dễ dàng, nếu nhiệm

16 - HADCH: 241

vụ học tập có thể chia thành một số bộ phận thành phần, ở

mỗi bộ phận này có thể học một cách độc lập so với bộ phận khác. Nó đòi hỏi học sinh, sinh viên nhận một bộ phận của nhiệm vụ chung để nghiên cứu và để cắt nghĩa cho người

học khác. Việc này có thể tiến hành như sau:

— Chỉ định cho mỗi người học một phần của nhiệm vụ học và tài liệu thích hợp cần đọc, yêu cầu họ tóm tắt lại

những ý chính;

— Bố trí người học thành những nhóm nhỏ, mỗi nhóm bao gồm những người học đã đọc một cách tập trung về cùng một phần (nếu nhiệm vụ học gồm ba phần thì sẽ có ba

loại nhóm khác nhau);

— Trong những nhóm này, người học kiểm tra nhau về sự hiểu đối với những tài liệu giống nhau;

— Bố trí lại các nhóm thành những nhóm mới, bao phủ tất cả các bộ phận của nhiệm vụ. Mỗi nhóm sẽ có một người học nghiên cứu phần thứ nhất, một người học khác nghiên.

cứu phần thứ hai;

— Hướng dẫn người học lần lượt cắt nghĩa phần của

mình cho người học khác;

— Kết thúc hoạt động bằng cách duyệt lại những ý tưởng quan trọng và chú trọng đến những câu hỏi được nêu lên trong những nhóm nhỏ.

Phương pháp “xâu chuỗi” này tránh được một vấn để thường xảy ra trong nhóm nhỏ là người học làm việc trong

tư thế không hiểu biết. Hoạt động khởi động của người học

là phải nghiên cứu một bộ phận cụ thể của nhiệm vụ học, điểu này làm cho họ biết được bộ phận đó và có thể tham

gia thảo luận trong nhóm với tư cách là những người đủ có

thông tin để nghiên cứu sơ bộ.

242

Phương pháp “xâu chuỗi” vừa trình bày là áp dụng cho

việc học sinh, sinh viên học tài liệu mới. Phương pháp này

còn được áp dụng cho việc nghiên cứu giải quyết một van dé có tính lý luận; giáo viên giao cho mỗi sinh viên nghiên cứu một phần cụ thể có tính lý luận về sự giải quyết vấn để. Mỗi sinh viên suy nghĩ về phần được giao, sau đó cắt nghĩa cho bạn và lại nghe bạn trình bày suy nghĩ của họ.

Một phần của tài liệu Phương pháp học và dạy cách học (Tái bản): Phần 2 (Trang 118 - 126)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(160 trang)