Diéutraky | Phân tích Tổng hợp Tra lời những

Một phần của tài liệu Phương pháp học và dạy cách học (Tái bản): Phần 2 (Trang 136 - 141)

M. A.Huberman: “Giải quyết uấn dé”

1. Diéutraky | Phân tích Tổng hợp Tra lời những

dữ kiện lên |những tình tần mạn, những |giản:

quan đến tình |huống được — |biện pháp xửlý |1 Lạm gì? Làm

huống. phân loại theo: lành huống tắn [ng nạo?

2. Phỏng vấn |nhóm hạng ee |mạn. 2. Ai làm? = tae ng những đương |vẩnđể vùng l2 Khái quất - [hức nào đen sự và người liên |Sinh thái; nhân lúa rútra — |hose chịu trách

quan vate những kết luận |nhiệm? Bao giờ 3.Thuthập |2 Phântíh |cóý nghĩa làm? Bao giờ

ghững trên cơ sở của: |nguyên tấc,lý. lrất thúc?

kinh nghiệm _ |_ Các môn khoa |lMân: 3. Những điều

xử lý tình lhọc có liên quan |3. Vạch ra kiện cần có để

huống tương tự |đến tình huống; |những chủ làm? (tiền, vật

Seong a khứ |_ Triết học trương, đường [t¿ phương tiện,

của địa pphương Đông vel! chien hước, kổ chức, cán bộ) phương, EDịch” vẻô lbiện phỏp cụ

của vùng, đả - |pao”. thể, những điều

nước hoặc thế Tin lkiện cần và đủ iới (nết — Nền tảng tư lad xt ly đú

giới (nếu có). ! = ing tu |dé xt ly đúng

tưởng Hồ Chí _ lgán tình huống.

(Minh,

Dữ liệu về những tình huống “cụ thể và có thật” là một

yêu cầu rất quan trọng của việc nghiên cứu theo phương pháp này để giải quyết nhiều vấn để nẩy sinh trong thực tiễn sản xuất, nghiên cứu, quản lý cũng như trong đào tạo,

huấn luyện. giáo viên.

ce. Một số nội dung cơ bản trong uiệc hướng dẫn sinh

uiên nghiên cứu khoa học

Trong Chương II, chúng tôi đã trình bày những yêu

cầu đối với các công trình tập dượt nghiên cứu khoa học như: bài tập nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận văn tốt nghiệp và các bước tiến hành nghiên cứu như:

lựa chọn để tài, xây dựng để cương nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu, xử lý tài liệu, viết công trình nghiên cứu, bảo vệ luận văn tốt nghiệp...

Trong Chương IV này, với tỉnh thần “dạy cách nghiên cứu”, một số vấn để sau đây sẽ được trình bày như những

biện pháp mà giáo viên cần dạy cho sinh viên để họ chủ động thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Ý tưởng xuyên suốt trong mục ba “dạy theo cách giải quyết vấn để” này là nhằm hai mục đích: bổi dưỡng phương

pháp và năng lực tự học chủ động và bổi dưỡng phương.

pháp và năng lực nghiên cứu sắng tạo.

Trong trường hợp đầu, thường là giáo viên đặt vấn để

hoặc hướng dẫn sinh viên đặt vấn để để giải quyết nhằm

dạy phương pháp giải quyết vấn để trong quá trình học; vấn

để nói ở đây thường là những vấn đề mà giáo viên đã biết câu trả lời rồi nhưng “hư cấu” thành chưa biết để lôi cuốn

sinh viên vào giải quyết.

Trường hợp thứ hai thường là phải giải quyết một tình

huống lúng túng, do đó cần phát hiện vấn đề chứa đựng tình huống ling ting nay như cốt lõi của vấn để; lời giải

đáp - khác với trường hợp trên, không phải đã có sẵn mà

phải sáng tạo ra. Mức độ sáng tạo có thể không có gì lớn,

chỉ là một sự áp dụng những nguyên tắc, những quy trình

đã biết vào những điểu kiện cụ thể và mới nhưng vẫn là

sáng tạo, chứ không phải là tái tạo. Đó là phương pháp giải

quyết vấn đề để bồi dưỡng năng lực nghiên cứu. Hai mặt sau đây sẽ được trình bày rõ là phát hiện vấn để và giải quyết vấn đề

"Theo chu trình ở sơ đồ 9, giai đoạn phát hiện uấn dé bao gồm những nội dung: ý thức về những gay cấn, kế hoạch để thay đổi, xác định vấn để; giai đoạn giđi quyết uấn dé bao gồm những nội dung: tìm lời giải, áp dụng, đánh giá.

s Giai đoạn phát hiện uấn dé

~ Ý thức về những gay cấn tức là về những mâu thuẫn phải giải quyết, được thể hiện ở: những sự kiện mà ta phải thu thập, điều tra một cách khách quan và đây đủ, có sự so sánh với những hệ quy chiếu được thừa nhận ròng rãi, để làm bật ra những mâu thuẫn, ví dụ:

+ Những sự kiện được coi là trái với những quy luật

hoặc nguyên tắc phổ biến, ngược với những quan niệm

thông thường;

+ Những sự kiện được nhìn nhận một cách bất đồng, không nhất trí giữa nhiều người, nhiều nhóm người;

+ Những sự kiện đang tạo ra những trở ngại, vướng

mắc cho sự tiến triển bình thường để đạt những mục đích

đã được xác lập một cách hợp lý v.v...

Đó là những sự kiện tổn tại trong thực tiễn tự nhiên và

255

xã hội. Cũng có những trường hợp người nghiên cứu phải chủ động tạo nên sự kiện bằng những thực nghiệm.

~ Kế hoạch để thay đổi thực trạng những gay cấn, tức là xác định nhiệm uụ giải quyết những mâu thuẫn nói trên

theo một kế hoạch, có bước đi theo thời gian, bố trí một “lộ

trình” với những “mốc”, những “đoạn đường đi” với những mục tiêu bộ phận nhằm đáp ứng những yêu cầu phải giải quyết về các mặt: thời gian, mức độ, hiệu quả của giải pháp.

+ Xóc định ấn đề (phần việc khó nhất) là đặt ra được những câu hởi cần trả lời nhằm hoàn thành nhiém vu chung và những nhiệm uụ bộ phận. Thực chất của việc phát hiện vấn để là thông qua những sự kiện đã thu thập và đã

phân tích thành những mâu thuẫn, hình thành những bài

toán rõ ràng, những câu hỏi sáng sủa để giải quyết (ví dụ:

tại sao lại xảy ra sự kiện/hiện tượng này? hoặc, làm thế nào tận dụng được sự kiện/hiện tượng này để phục vụ con người? hay là, sự kiện/hiện tượng A là đúng hay sai? v.v...).

Muốn đặt được vấn để thật “trúng”, cần phải biết “khoanh

vấn để” tức là biết xác định phạm vi vấn đề trên cơ sở phân loại các loại hình khác nhau của cùng một vấn để, rồi xác

định loại hình được chọn.

ô Giai đoạn giải quyết uấn dộ

-Tìm lời giải. Đây là khâu trung tâm của việc giải quyết vấn đề.

Những hướng giải quyết vấn đề thường manh nha, hình thành rõ dần ngay trong giai đoạn phát hiện vấn đề, dưới dạng những ý tưởng nẩy sinh để giải quyết vấn đề hoặc

dưới dạng những giả thuyết nghiên cứu là những giả thuyết

khoa học. Những ý tưởng hoặc giả thuyết nghiên cứu có thể

256

nẩy sinh bằng cách:

+ Tư duy phê phán, phân tích thực tiễn;

+ Phát hiện những “khe hở” trong những quy luật, nguyên tắc, những quy trình, quy tac;

+ Xây dựng trên những sự kiện, dữ kiện thu thập được, phù hợp với những quy luật khoa học, quy tắc kỹ thuật, quy

trình công nghệ v.v...

Những giả thuyết khoa học là những phán đoán giả định về bản chất sự vật hoặc hiện tượng được đặt ra, cần được kiểm chứng bằng lý thuyết hoặc thực nghiệm. Trong quá trình tìm tòi lời giải, kiểm chứng giả thuyết, thường phải xác định một hệ thống khái niệm công cụ (cần được quan niệm thống nhất trong quá trình “giải quyết vấn để”,

có thể phải đặt ra những khái niệm mới), phải làm fổng quan/ tổng luận khoa học để kế thừa những tư tưởng,

phuong pháp, kết quả nghiên cứu và vận dụng vào giải bài

toán đang đặt ra.

Sự kiểm chứng là sự chứng minh giả thuyết nghiên cứu đúng/sai như thế nào, là việc thử bác bỏ giả thuyết bằng cách chỉ ra rằng, nó không phù hợp với thực tiễn đo đạc

được, quan sát được, hoặc nó không thể kiểm chứng được,

hoặc nó trái với các lý thuyết khoa học, nó phi lôgích v.v...

— Áp dụng. Lầm thử trong một số trường hợp, ở một số nơi khác nhau, có theo đối, rút kinh nghiệm nhằm bổ sung, hoàn chỉnh giải pháp đã tìm ra cho sát với thực tiễn trước khi áp dụng rộng rãi. Đợt làm thử cho phép để ra những chỉ dẫn cụ thể hơn cho các trường hợp ứng dụng. Quá trình ấp

dụng thử để tiến tới mở rộng đại trà đều đã phải có những

nội dung đánh giá từng phần hoặc tổng hợp.

17 -H&DCH 257

~ Đánh giá. Khâu đánh gia nhằm mục đích xác định giá

trị của công trình so với những chỉ tiêu đề ra, tập trung vào xem xét vấn để phát hiện ra đã được giải quyết đến mức độ nào, thường là dựa trên những mặt chất lượng, hiệu quả và

triển vọng. Việc đánh giá sẽ được tiến hành tùy theo quy

chế về đề tài nghiên cứu khoa học, ví dụ theo phương pháp chuyên gia hoặc theo phương pháp hội đồng.

Những nội dung trên cần được giáo viên hướng dẫn

thông qua việc giao cho sinh viên hoàn thành một công trình nghiên cứu cụ thể hoặc tham gia một công trình nghiên cứu tập thể, được phân công hoàn thành một bộ phận một cách tương đối độc lập.

Hình thức hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu khoa học là một hình thức đào tạo nhằm bổi đưỡng năng lực tư

duy độc lập, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề có hiệu quả.

Một phần của tài liệu Phương pháp học và dạy cách học (Tái bản): Phần 2 (Trang 136 - 141)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(160 trang)