Tâm hồn trẻ thơ qua cách nhìn, cách tả cảnh vật

Một phần của tài liệu Giáo trình Văn học trẻ em (in lần thứ 15): Phần 2 (Trang 38 - 49)

THO TRAN DANG KHOA

1. Tâm hồn trẻ thơ qua cách nhìn, cách tả cảnh vật

Trong cái nhìn của Khoa, tất cả thế giới xung quanh đều như có tâm hồn, đều là bầu bạn. Anh thường sử dụng biện pháp nhân cách hoá để miêu tả cảnh vật. Và cũng với cái nhìn “vật ngã đồng nhất”, anh có thể kết bạn với một chú chó vàng (Sao không về Vàng ơi?) và chuyện trò thân thiết với người bạn của nhà nông (Con trâu den lông mượt) hoặc với cây trầu (Đánh thức trầu). Bé Giang có thể cùng chơi với con mèo khoang (Đánh tam cúc)... Buổi sáng nhà em với ông trời, bà sân, cậu mèo, mụ gà, cái na, cu chuối, chị tre, bác nồi đồng.... làm nên một thế giới đầy hấp dẫn với sự nhộn nhịp, đông vui đầy sức sống của một buổi sáng, một ngày mới

bắt đầu. Trong Em kể chuyện này, "Những chị lúa phất phơ bím tóc”, "Những cậu.

tre bá vai nhau thì thâm đứng học”,... quây quần xung quanh những cậu bé thông,

mình tỉnh nghịch tạo thành một thế giới trẻ tho thật vui tươi, sống động. Cũng với lối nhân cách hoá như vậy, Khoa viết về cây dừa, khi thì như người bạn hào phóng:

“Dang tay dén gid, gật đâu gọi trăng”, khi thì như một người lính:

Đứng canh trời đất bao la

Ma dita dũng đỉnh như là đứng chơi.

(Cây dừa)

'Và miêu tả cảnh Buổi sóng nhà em với những nhân vật thật sống động:

.. Cậu mèo đã dậy từ lâu

Cái tay rửa mặt, cái đâu nghiêng nghiêng Mụ gà cục tác như điên

Làm thằng gà trống huyền thuyên một hồi Cái na đã tỉnh giấc rồi

Đần chuối đứng vÕ tay cười vui sao...

Ca ngợi những vẻ đẹp của thiên nhiên, giao cảm với tạo vật trong những sắc thái rung động, tình vì nhất, Khoa như tìm thấy ở thiên nhiên một sự hoà điệu về tâm

hồn. Bài thơ Đánh thức trầu là một ví dụ. Lời thơ như tiếng chuyện trò thủ thi:

157

Đã ngủ rồi hả trâu Tao đã di ngủ dau

Mà trâu mày đã ngủ?

Diu dang nang niu 14 trầu bé bỏng, hái một lá cũng sợ trâu đau, anh phải hát

mãi để đánh thức trâu dậy. Đối với anh, cây trâu cũng có cảm giác, cũng “nghe”

được những tiếng tâm tình của con người:

Lá nào muốn cho tao

Thì mày chìa ra nhé

Tay tao hái rất nhẹ

Không làm mày dau đâu...

Cũng chính vì giao cảm với thiên nhiên, tạo vật nên Khoa có thể nghe được:

Chiếc ngõ nhỏ

Thở sương đêm

Ông trăng lên

Cười trong lá.

(Chiếc ngõ nhỏ)

Chiếc ngõ nhỏ trong con mắt của anh cũng có cuộc sống riêng đây sôi động, có một thế giới tâm hồn phong phú và không kém phần thơ mộng. Chiếc ngõ nhỏ sắn bó với con người và cuộc sống của họ. Khi các chú bộ đội hành quân đi qua, đi xa, “chiếc ngõ nhỏ, ở lại nhà”, nó cũng xao xuyến và nhớ mong.

2. Trí tưởng tượng phong phú bay bổng và sự liên tưởng, so sánh kì diệu

Không bao giờ Khoa nhìn sự vật trong sự đơn nhất, trần trụi mà luôn luôn phát hiện ra những mối liên hệ của chúng hoặc liên tưởng tới những hình ảnh tương đồng khác để từ đó khái quát lên một cái gì đó cao hơn.

“Từ một cánh diều, khi thì tưởng tượng ra:

Sao trời trôi qua.

Điều thành trăng vàng.

Khi lại thấy:

Diéu hay chiếc thuyên

Trôi trên sông Ngắn...

158

Diéu la hat cau

Phoi trên nong tr

Diéu em — lưỡi liém

Ai quên bỏ lại...

(Thả diều)

Kì diệu nhất là từ tiếng sáo diều, anh thấy cánh đồng lúa như xanh hơn, bầu.

trời như cao hơn và nắng như cũng vàng rực rỡ hơn — Cuộc sống bình yên trên quê

hương anh là vĩnh viễn.

Hay từ một vâng trăng, có lúc thấy:

Trăng hông như quả chín Ling lơ lên trước nhà.

Có khi hình dung ra:

Trăng tròn như mắt cá

Chẳng bao giờ chớp mỉ

Và táo bạo hơn nữa là:

Trăng bay như quả bóng Bạn nào đá lên trời.

(Trăng ơi... từ đâu đến)

Những liên tưởng bất ngờ của Khoa luôn tạo nên chất lãng mạn kì diệu trong thơ. Có thể tìm thấy trong thơ anh không hiếm những câu thơ như thế này:

Vườn xanh biếc tiếng chim

Doi chiéu khua chạng vạng

Ai đắt ông trăng vàng

Thả chơi trong lầm nhãn.

(Hương nhãn) 3... Ngôn ngữ chính xác, biểu cảm và giàu âm thanh, nhịp điệu

Hầu như mỗi từ, mỗi câu trong thơ Trần Đăng Khoa đọc lên đều thấy rõ sự gia

công, sáng tạo của tác giả.

Anh tả cảnh Mẹ ốm:

Cánh màn khép lỏng cả ngày

159

Không phải là cánh màn khép chặt, hay cánh màn khép hờ mà phải đúng là cánh màn khép lỏng. Nếu khép chặt thì ra người đã chết, khép hờ gân giống như khép lỏng nhưng sắc thái biểu cảm của nó mờ hơn, nhạt hơn. Cánh màn khép lỏng, vì thường xuyên có người vào ra thăm hỏi, và còn vì đẳng sau cánh màn đó luôn

luôn có cậu bé con ngồi chăm mẹ ốm. Chỉ cần một từ hé ra thôi mà hiện lên cả

một thế giới tâm hồn sâu sắc. Thông cảm với nỗi nhọc nhằn của mẹ, Khoa cũng

không viết nhiều mà chỉ bằng một câu:

Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong dời mẹ đến giờ chưa tan.

người đọc cũng có thể cảm nhận được biết bao yêu thương và sự trân trọng ẩn

chứa trong từ “lặn” ấy.

Hoặc khi viết:

Sân kho máy tốt lúa

Mở miệng cười âm Âm

Thóc mặc áo vàng óng Thở hí hóp trên sân

(Thôn xóm vào mùa)

Anh dùng từ “hí hóp”. Khi đăng bài này ở địa phương, biên tập đã sửa lại là óc mặc áo vàng 6ng, Nhdy nhét mdi trén san”. Lic d6 Khoa 10 tuổi, anh thắc

mắc: "Sao lại chữa của em! Hết ngày mùa thì thóc làm sao nhảy nhót được mãi.

Em nói là thóc nó thở hí hóp kia mà!”.

Nhà thơ Xuân Diệu đã có lời bình:

"Nhân vật chính là thóc, âm nhạc chính là thóc, múa nhảy chính là thóc Nếu là ngô văng ra giữa sân, thì hạt ngô không thể nào thở hí hóp được, vì nó chỉ có một cái vỏ tròn nguyên, còn hạt thóc là gồm hai mảnh trấu quặp lại thành cái vỏ, nên khi thóc văng ra, thóc mệt, thở hí hóp như con cá có hai mang bị nằm trên cạn”.

(Một em nhỏ làm thơ — Xuân Diệu)

Ngôn ngữ thơ Khoa rất giàu âm thanh, nhịp điệu. Đó là âm thanh rộn rã, náo.

nức và nhịp điệu khẩn trương của cuộc sống. Bài thơ O 6 ứ... là một vớ dụ:

060...

060...

160

Tiếng gà

Giục quả na

Mở mắt

Tròn xoe

Giục hàng tre Dam mang

Nhọn hoắt

Gọi ông trời

Nhô lên

Rửa mặt

Ôi! bốn bể

Bát ngát

Tiếng gà 060...

Bài thơ được viết nãm 1967. Nhà thơ Xuân Diệu đã có lời bình: “... Con gà gáy sáng đã bao nhiêu triệu, bao nhiêu vạn năm nay, ai nấy cũng đã nghe nhàm quá rồi, nhưng em bé và nhà thơ vẫn phát hiện được cái rất là mới. Chao ôi! Tiếng gà gáy đánh tan cả âm khí nặng nề, ở hoàn cảnh nước ta đang có chiến tranh bởi giặc Mĩ xâm lược..., sự sống nở ra sáng tươi chiến thắng biết bao!” (Một em nhỏ

làm thơ)

Thơ Trần Đăng Khoa có những bài ngắn gọn, vui nhộn như phong cách đồng đao (Kể cho bé nghe, Ò ó o.... Mưa, Tiếng võng kêu,...), cũng có những bài mang sắc thái êm địu, ngọt ngào, tha thiết như những bài dân ca (Mẹ ốm, Đánh thức trâu, Cây dừa, Em dâng cô một vòng hoa...)

4. Những hình ảnh đẹp, sáng tạo và độc đáo

Trân Đăng Khoa đặc biệt chú ý học tập những tỉnh hoa văn hoá truyền thống và đương đại để sáng tạo ra những hình ảnh đẹp, độc đáo trong thơ của mình. Có thể tìm thấy trong thơ anh rất nhiều hình ảnh do được gợi ý từ những câu ca, điệu

hát quen thuộc hoặc từ những câu chuyện cổ hấp dẫn trong vốn văn hoá dân gian.

Hình tượng Thánh Gióng (trong truyện Thánh Gióng), Thân trụ trời (trong truyện

Thân trụ trời) đã giúp anh sáng tạo ra nhing hinh anh rat dep trong bai Mua:

161

Ông trời

Mặc áo giáp đen

Ra trận...

_. Bố em đi cày về

Đội chớp

Đội cả trời mưa.

Tir mot câu đố dân gian về quả dừa:

Chân không tới đất

Cật không tới trời

Lơ lừng giữa trời

Mà đeo bụng nước.

đã giúp anh viết rất hay về cây dừa:

Ai mang nước ngọt, nước lành

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa.

Đọc bài thơ Đám ma bác giun, ta cũng thấy thấp thoáng bóng những câu ca

đao cổ:

Con cò mắc giò mà chết

Con qua ở nhà mua nếp làm chay

Con cụ đánh trống bằng tay

Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn

Chiên chiện vừa khóc vừa lăn

Một bây se sẻ bịt khăn chở cò.

Đặc biệt, việc sáng tạo hình ảnh con cò là quá trình học tập vận dụng rất nhiều

ở ca dao, biến tỉnh hoa văn hoá truyền thống thành cái của mình. Điều đó thể hiện

một tri thức, một sự làm việc nghiêm túc đã vượt lên trên tính trẻ thơ của một tác

giả còn ít tuổi.

Không chỉ học tập những tỉnh hoa văn hoá truyền thống, Trân Đăng Khoa còn rất chú ý học tập ở các tác giả hiện đại. Anh lưu giữ những thứ đã đọc được để

162

sáng tạo ra cái độc đáo riêng của mình, ví dụ: Hình tượng Dé Mén trong Dé Mén phiêu lưạ kí của Tô Hoài đã giúp anh viết nên câu thơ nổi tiếng:

Ao trường vẫn nở hoa sen

Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu

hay từ câu thơ của Bàng Bá Lân:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múíc ánh trăng vàng đổ đi đã gợi ý cho Trần Đăng Khoa sáng tạo ra hình ảnh:

Mẹ em tắt nước, nắng đây trong khau.

Tóm lại, với tâm hồn thơ phong phú, nhạy cảm và tỉnh tế, cùng với khả năng

sáng tạo tuyệt vời, thơ Trần Đăng Khoa đã chiếm được sự yêu thích của bạn đọc

trải qua nhiều thế hệ. Đó là một hiện tượng thơ đặc biệt có vị trí xứng đáng trong

nền văn học thiếu nhỉ nói riêng, trong lich sit van học Việt Nam nói chung.

Đọc thơ Trần Đăng Khoa, người ta cảm nhận được một tâm hồn thơ trẻ trong

sáng, giản dị, chan chứa một tình yêu đầm thắm, thiết tha với con người, thiên

nhiên và cuộc sống. Thơ anh đến với tuổi thơ trước tiên bằng những rung động,

những cảm xúc chân thành nhân ái. Thơ anh còn khơi đậy những rung động trong tâm hồn người lớn, làm cho họ được trở về với tuổi thơ, tìm gặp lại mình trong cái trong trẻo, tỉnh nguyên của những xúc cảm đối với thiên nhiên, đối với nghệ thuật.

Thơ tuổi thơ Trần Đăng Khoa đã được soạn vào chương trình giảng dạy ở trường mẫu giáo, trường tiểu học và trường trung học cơ sở. Nhưng không chỉ vậy, thời gian và thực tế đã khẳng định thơ Trần Đăng Khoa đã thực sự chỉnh phục được thế

hệ tuổi thơ. Phải chăng, cái hiện thực cụ thể ở thơ Trân Đăng Khoa đã “được đặt

trong mối tương quan với hàng loạt vấn đẻ bao trùm hơn, dài lâu hơn của thời đại, của lịch sử” (Nguyễn Văn Long),

1V. GIỚI THIỆU MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA TRẤN DANG KHOA

(Sinh viên tự chọn một bài để thực hành phân tích tác phẩm văn học)

HẠT GẠO LÀNG TA.

Hạt gạo làng ta

Có vị phh sa

Của sông Kinh Thây

Có hương sen thơm

163

Trong hồ nước đây

Có lời mẹ hát

Ngọt bài đắng cay.

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy Có mua tháng ba Giạt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngói lên bờ Mẹ em xuống cấy...

Hạt gạo làng ta

Những năm bom Mĩ

Trút trên mái nhà

Những năm cây súng Theo người đi xa

Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng

Bát cơm mùa gặt

Thơm hào giao thông...

Hạt gạo làng ta

Có công các bạn Sớm nào chống hạn

Vục mẻ miệng gâu

Trưa nào bắt sâu

Lúa cao rắt mặt

Chiêu nào gánh phân

Quang trành quết đất.

Hạt gạo làng ta Giửi ra tiên tuyến

Gửi về phương xa

Em vui em hat

Hat vang lang ta

(1969)

THA DIEU Cánh điêu no gió Sáo nó thổi vang Šao trời trôi qua

Diều thành trăng vàng.

Cánh điểu no gió Tiếng nó trong ngân Diễu hay chiếc thuyền

Trôi trên sông Ngân.

Cánh diêu no gió Tiếng nó chơi voi Diéu la hat cau

Phot trên nong trời.

Trời như cánh đồng Xong mùa gặt hái Điêu em — lưỡi liễm Ai quên bỏ lại.

Cánh điều no gió Nhạc trời réo vang Tiếng điêu xanh lúa

Uốn cong tre làng.

165

166

Ơi chú hành quân Cô lái máy cày Có nghe phơi phới

Tiếng điêu lượn bay?

Tiếng điêu vàng nắng Trời xanh cao hơn Dây điều em cắm Bên bờ hố bom

(1968)

CHOM THU

Sân trăng nghe đã dân phai

La thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây Nghe trời trở gió heo may

Sáng ra vại nước rụng đây hoa can..

HOA DẠI

Thương một quãng đường chói nắng Mâm hoa đạp đất nhô lên

Sắc thắm rất nhiều về sáng

Hương thơm rất nhiều về đêm.

Một vùng tươi mát, trong lành

Vui VỀ người qua, Hoa ơi,

Ai bảo em là hoa dại!

TRĂNG SÁNG SÂN NHÀ EM Ông trăng tròn sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em

Trăng khuya sáng hơn đèn Ơi ông trăng sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em...

Hàng cây cau lặng đứng Hàng cây chuối đứng im

Con chìm quên không kêu Con sâu quên không kêu Chỉ có trăng sáng tỏ

Soi rd san nha em

Trăng khuya sáng hơn đèn Ơi ông trăng sáng tỏ

Soi rõ sân nhà em...

ĐÁNH THỨC TRẦU Trẩu trẩu trâu trâu

Mày làm chúa tao

Tao làm chúa mày Tao không hái ngày

Thì tao hái đêm.

(Câu hát của bà em)

Đã ngủ rồi hả trâu?

Tao đã di ngủ đâu Mà trâu mày đã ngủ Bà tao vừa đến đó

Muốn có mấy lá trầu Tao không phải ai đâu

167

Đánh thức mày để hái!

Trâu ơi, hãy tỉnh lại

Mỏ mắt xanh ra nào!

Lá nào muốn cho tao

Thì mày chìa ra nhé Tay tao hái rất nhẹ

Không làm mày dau đâu...

Đã dậy chưa hả trầu?

Tao hái vài lá nhé

Cho bà và cho mẹ

Ditng lui di trầu ơi!

Một phần của tài liệu Giáo trình Văn học trẻ em (in lần thứ 15): Phần 2 (Trang 38 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(81 trang)