B. MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
I. KIEN THUC CO BAN CAN LƯU Ý
3. Hãy chọn và phân tích một số truyện để thuyết minh cho ý nghĩa giáo dục
ANĐÉCXEN I. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Anđécxen (Andersen) là nhà văn Đan Mạch thiên tài, sinh ngày 2 tháng 4 năm.
1805 và mất ngày 4 tháng 4 năm 1875. Ông là con một người thợ giày ở thành phố
Odenzé cổ kính nổi tiếng với nghề chạm gỗ. Năm 1816, cha mất, mẹ tái giá,
187
Andécxen phải lo tự lập kiếm sống. Ông đã lớn lên trong cảnh bần hàn cay đắng.
Những kẻ quyền quý thường chế giễu ông về
rất tự hào về sự gần gũi của mình với những người nghèo khổ. Ông gia nhập “Liên đoàn thợ thuyền” và thường xuyên đọc cho thợ thuyền nghe những truyện thần
tiên của mình.
lòng máu đân đen”, nhưng ông lại
II. TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA ANĐÉCXEN
Anđécxen nổi tiếng là người thông minh, hiếu học. Ông làm thơ, viết truyện,
nhưng mọi người biết đến tài năng của ông là ở những pho truyện cổ tích do ông
kể. Truyện cổ tích của ông bộc lộ một khả năng kì lạ của trí tưởng tượng. Ngay từ
bé, mỗi khi nghe người lớn kể chuyện thì ngay lập tức, ông có thể kể lại và biến hoá những câu chuyện ấy theo trí tưởng tượng của riêng mình. Mọi người đã kinh ngạc gọi ông là “gã phù thuỷ”. Thế giới xung quanh bước vào truyện kể của ông thật sinh động. Từ một chiếc lá rơi, một con kiến tha mồi, một con chim gõ kiến....
déu biết nói năng, di lại, có hồn, thậm chí cả chiếc bình mực cạn cũng trở thành một câu chuyện làm say đấm lòng người. Có thể n‹
Anđécxen khó ai sánh nổi.
trí tưởng tượng của
Nhờ trí tưởng tượng phong phú kì diệu, ông đã sáng tạo ra những câu chuyện hấp dẫn, có ý nghĩa sâu xa và sức cuốn hút kì lạ. Pautôpxki đã có nhận xét: “Trong
mỗi truyện cổ tích cho trẻ em của Anđécxen còn có một truyện cổ tích khác mà
chỉ người lớn mới có thể tìm hiểu hết ý nghĩa của nó
'Với bút pháp vừa trào lộng vừa trữ tình, vừa hiện thực vừa lãng mạn, truyện cổ tích của Anđécxen đã đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống. Xuất thân từ tầng
lớp lao động nghèo khổ, lại phải tự lập từ rất sớm, ông hiểu rõ cuộc sống vất vả,
cay đắng của người dân lao động, đặc biệt là cảm thông, thương yêu những em bé mồ côi bất hạnh (Ví dụ: Cô bé bán điêm, Mụ ấy hư hỏng,...). Ông ca ngợi lòng dũng cảm và khả năng đấu tranh kiên trì của con người chống lại cái xấu, cái ác
.). Ông nhìn thấy những phẩm chất tốt đẹp và khả năng tuyệt vời của những người lao động. Họ là những
người tuy nghèo khổ nhưng lại giàu lòng yêu thương và sẵn sàng có thể hi sinh vì
tình yêu cao cả (Ví dụ: Nang tién cd, Bay thién nga, Chim hoa mi,...). Ong cing
lớn tiếng phê phán những thói hư tật xấu của mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là
trong cuộc sống (Ví dụ: Bà chứa tuyết, Nữ thân bảng giá
188
bọn vua quan bất tài, ngu dốt va hom hinh (Ví dụ: Bộ quẩn áo mới của Hoàng đế....).
Nhìn chung, truyện của ông dù là hiện thực hay hư cấu thì cũng đều bắt rễ từ hiện thực cuộc sống. Anđécxen đã từng nói: “Không có truyện kể nào hay hơn được những điều do chính cuộc sống tạo nên”. Các nhân vật trong tác phẩm của
ông, từ thần tiên cho đến con người đều có một cuộc sống riêng và một tâm hồn
phong phú, bộc lộ bản chất tốt đẹp của người lao động. Truyện cổ Anđécxen mang
một giá trị nhân đạo sâu sắc. Chính vì thế, những tác phẩm này tuy được viết từ thế ki XIX, mà đến nay đọc lại, ta vẫn thấy những câu chuyện ấy, những nhân vật ấy
sống mãi với tâm trí mình không thể nào quên.
Ill. PHAN TÍCH TÁC PHẨM
Chọn một trong những truyện sau đây để phân tích: Có bé bán diém, Bộ quan
áo mới của Hoàng Đế, Bà chúa Tuyết.
Gợi ý phân tích truyện Bà chúa Tuyết 1, Tóm tất tác phẩm
Bà chúa Tuyết là một truyện dài, gồm bảy phân tương đối độc lập như bảy câu chuyện nhỏ.
* Phần một: Tấm gương và những mảnh gương vỡ
Một con quỷ chế tạo ra được một tấm gương kì lạ. Tất cả người tốt việc tốt soi
vào đấy sẽ méo mó, dị dạng; còn người xấu, việc xấu soi vào sẽ càng trở nên đáng ghét. Con quỷ thích chí đem tấm gương đi chế nhạo kháp thế gian; sau quỷ dem
gương lên Thiên đình để chế nhạo cả Chúa Trời và các Tiên đồng. Nhưng vừa đến
cửa nhà Trời thì tấm gương bị rắm ró, cong queo, tuột khỏi tay con quỷ rơi xuống, vỡ tan thành hàng triệu mảnh nhỏ li tỉ. Những mảnh gương này nếu bắn vào mắt ai thì người đó sẽ nhìn mọi người, mọi vật thành xấu xí, và nếu mảnh gương bắn vào.
tìm ai thì trái tìm người đó sẽ trở thành lạnh lùng, băng giá.
* Phân hai: Hai em bé
C6 hai em bé chơi với nhau rất thân. Bé trai tên là Kay và bé gái tên là Giécđa.
Lúc nào hai em cũng ở bên nhau, khi thì cùng nghe bà kể chuyện cổ tích, khi cùng
189
tụm lại xem tranh, có khi cùng chăm sóc cây hoa hồng trong vườn nhà bà... Một hôm, các em đang vui đùa thì bỗng Kay thấy đau nhói ở trong mắt và trong tỉm.
Một mảnh gương vỡ của quỷ đã bắn vào mắt và một mảnh gương khác bắn vào tim
em. Lập tức, em nhìn mọi người, mọi vật đổi khác. Trái tim em cũng lạnh lùng,
dửng dưng với tất cả. Kay nhại lại lời bà, em vặt đi những bông hoa hồng rất đẹp và đuổi cả Giécđa là người bạn thân thiết của em... Từ đó, Kay không ở nha, em di chơi lang thang, tới giang sơn mênh mông, băng giá của Bà chúa Tuyết. Giécđa rất buồn nhớ Kay, em khóc vì thương bạn. Sau đó em quyết tâm đi tìm bạn.
* Phân ba: Vườn nhà bà lão biết làm phép lạ
Giécda ra di, lòng buồn vô hạn. Em khóc hết ngày này sang ngày khác vì cứ
nghĩ là Kay đã chết. Giếcđa hỏi thăm mặt trời, hỏi thăm đàn chim, hỏi đồng
sông,... nhưng tất cả đều trả lời là không biết Kay ở đâu, nhưng ai cũng tin là Kay chưa chết. Giếcđa xuống một con thuyền, thuyền đưa em đạt vào vườn một bà lão nhân hậu, biết làm phép lạ. Vườn hoa của bà rất đẹp. Giécda nhìn cây hoa hồng bỗng nhớ tới Kay, em khóc nức nở. Bà lão an ủi em, lấy lược vàng chải tóc cho em. Bà còn dùng phép lạ bắt những cây hồng chui xuống đất để Giécđa quên đi những kỉ niệm cũ. Bà lão muốn Giécda ở lại với bà. Hằng ngày, Giécđa trò chuyện với các loài hoa trong vườn. Nghe những cây hoa kể về cuộc đời của mình, Giécđa buôn quá lại khóc. Nước mắt của em nhỏ xuống đất làm cho một cây hồng lại mọc lên. Hoa hồng báo cho Giécđa biết là Kay chưa chết. Giécđa lại chia tay với bà lão và khu vườn đẹp để lên đường tìm Kay.
* Phân bốn: Hoàng tử và công chúa
Trên đường đi, Giécđa gặp một chú qua. Em kể mọi chuyện của mình cho quạ nghe. Quạ nói với Giécđa là Kay bây giờ đã là hoàng tử và đang sống cùng với vợ là công chúa ở trong hoàng cung. Qua dua Giécđa về nhà và bàn với người yêu là quạ cái hiện đang phục vụ trong hậu cung giúp Giếcđa vào gặp Kay. Giécđa được đưa vào cung cấm, đến một căn phòng trang hoàng lộng lẫy, em thấy hoàng tử đang nằm ngủ. Nhìn thấy cái gáy của hoàng tử, Giécđa vui mừng reo lên. Nhưng khi hoàng tử quay lại, thì ra đó không phải Kay. Hoàng tử có cái gáy rất giống
Kay nén Giécda da nhầm. Giécđa oà khóc. Công chúa và hoàng tử an ủi em. Giécđa.
kể hết mọi chuyện. Hôm sau, công chúa và hoàng tử cho em một cỗ xe song mã, có
đủ quân áo, lương thực và lính hộ vệ để lên đường tìm Kay.
190
* Phần năm: Con gái quân cướp đường
Lũ cướp chặn xe của Giécđa lại. Chúng giết người lính hộ vệ, người hầu và
anh đánh xe. Chúng bất Giécda về sào huyệt định ăn thịt nhưng đứa con gái tên cướp đường ngăn lại vì nó muốn có bạn để chơi. Buổi tối, Giécđa ngủ cùng với con gái tên cướp đường. Em kể cho người bạn mới nghe chuyện em đi tìm Kay. Cô con gái tên cướp đường không biết Kay ở đâu, nhưng con chim của lũ cướp mách cho.
Giécđa biết Kay đã bị Bà chúa Tuyết đem về xứ Lapôli là một nơi quanh năm chỉ có băng tuyết. Con nai của lũ cướp cho biết Lapôli chính là quê hương của nó.
Sáng hôm sau, con gái tên tướng cướp đã giải phóng cho nai và Giécđa để nai đưa Giécđa đến giang sơn của Bà chúa Tuyết tim Kay. Giécda chia tay với người bạn
mới, lòng đầy cảm động.
* Phân sáu: Bà lão xứ Lapôli và bà lão người Phân Lan
Nai đưa Giécđa đến được xứ Lapôli, một bà lão người Lapôli cho biết Bà chúa Tuyết đã chuyển sang xây dựng lâu đài trên đất Phần Lan. Tìm được Kay không khó, nhưng muốn cứu Kay trở lại cuộc sống bình thường thì phải lấy được những
mảnh gương vỡ ở trong mắt, trong tim Kay. Nếu không, gặp Kay cũng chỉ vô ích.
* Phần bảy: Việc xảy ra trong lâu đài Bà chúa Tuyết
Tìm đến lâu đài Bà chúa Tuyết, Giécđa gặp Kay. Mừng khôn xiết, Giécđa ôm.
châm lấy bạn mà reo lên, nhưng Kay vẫn cứ trơ trơ, cứng nhác và lạnh như băng.
giá. Giécđa cà lên khóc. Những giọt nước mắt yêu thương nóng hổi rơi lên ngực và thấm vào tận tìm Kay làm cho trái tìm băng giá bỗng ấm lên. Mảnh gương vỡ trong tim Kay bị đánh tan. Kay thấy nhớ nhà và em cất lên tiếng hát, bài hát trước đây em vẫn thường cùng hát với Giécđa. Bỗng nhiên Kay ứa nước mắt, rồi em khóc nức nở khiến cho mảnh gương quỷ trong mắt trôi ra. Em nhìn Giếcđa và nhận ra người bạn gái đáng yêu của mình. Kay đã hoàn toàn trở lại bình thường.
như xưa. Hai em nhanh chóng thoát khỏi lâu đài của Bà chúa Tuyết và tìm đường.
vẻ nhà. Mọi cảnh vật vẫn như xưa, chỉ có hai em là đã lớn.
2. Gợi ý phân tích
2.1. Tìm hiểu giá trị hiện thực của tác phẩm
“Truyện đã đẻ cập đến hiện thực của xã hội tư bản châu Âu, đặc biệt là Đan Mạch
nửa cuối thế kỉ XIX. Hình tượng tấm gương và những mảnh gương vỡ của quỷ dữ
191
là sự phủ nhận sự thật và chân lí, là hiện thân của cái xấu, cái ác đang tồn t¿
lộng hành ở khắp mọi nơi. Thật là tai hại khi bất cứ ai bị những mảnh gương quỷ đó bắn vào mất thì cũng có cái nhìn méo mó, lệch lạc; và nếu như những mảnh gương ấy bắn vào tim thi trái tìm người đó trở nên lạnh lùng, băng giá. Sức tàn phá của những mảnh gương thật là ghê gớm vì nó làm cho con người ta bị tha hoá và trở nên mù quáng, nó làm cho sự thật trở thành dối trá, mọi giá trị bị đảo lộn.
2.2. Tìm hiểu giá trị nhân đạo của tác phẩm
— Với tấm gương kì lạ, lũ quỷ đã chế nhạo cả thế gian, nhưng khi mang tấm sương lên trời, chúng đã thất bại. Tấm gương méo mó và tan vỡ thành từng mảnh nhỏ. Như vậy, dù cái xấu, cái ác đang tồn tại ở khắp mọi nơi trong thế gian nhưng
vẫn còn một nơi mà chúng không thể nào đặt chân tới được. Phải chăng hình tượng thiên đình ở đây tượng trưng cho một xế hi
của tác giả mà ở đó không còn cái xấu,
lí tưởng, xã hội trong niềm mơ ước
ấy
ái ác, những sự bất công ngang trái
lùi, lương trí và tình cảm con người được để cao và tôn trọng.
~ Hình tượng bé Giếcđa đi tìm bạn gợi cho người đọc nghĩ nhiều tới tinh yêu thương, “lòng tốt kì diệu” của con người có thể chiến thắng mọi cái xấu, cái ác.
Trên đường đi tìm Kay, Giécđa chỉ có vũ khí duy nhất là tình yêu thương và niềm
tin. Đó chính là ánh sáng soi đường dẫn lối, là sức mạnh để cho em vượt qua biết bao gian khổ, cảm hoá được biết bao nhiêu người và vật để cuối cùng tìm gặp được.
Kay. Khi gặp Kay, cũng chính lòng tốt và những giọt nước mắt tràn đẩy yêu thương của Giécđa đã làm tan những mảnh gương độc ác, đốt lên một ánh sáng mới trong tâm hồn, trí tuệ Kay, giải thoát cho Kay khỏi nanh vuốt của Bà chúa Tuyết, để cho Kay trở lại bình thường, là chính mình. Rõ ràng, sức mạnh của tình yêu thương đã chiến thắng cái xấu, cái ác, chiến thắng tất cả.
Khi phân tích, chú ý chỉ tiết những giọt nước mắt của Giécđa. Trong bảy câu chuyện nhỏ đã có tới năm lần xuất hiện nước mắt của Giécđa. Đó là những giọt
nước mắt tràn đẩy yêu thương, là hiện thân của lòng tốt và sự cảm thông bè bạn.
Đặc biệt, lần khóc cuối cùng của Giécđa đã quyết định vận mệnh cuộc đời Kay.
Những giọt nước mắt nóng hồi của Giécda roi trên ngực Kay, thấm vào tìm Kay mới làm cho trái tìm băng giá của Kay nóng ấm trở lại và không còn chỗ trú cho mảnh gương ác độc... Nước mắt của Giécda đã kéo theo nước mắt của Kay.
192
Kay đã biết khóc trở lại (nguy hiểm nhất là trong cuộc đời, con người ta không biết khóc), biết xúc động và luyến tiếc những ngày sống đẹp để có thể biết suy nghĩ và hành động đúng.
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
I. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Truyện cổ tích Andécxen, Tập 1 và Tap 2. Nxb Van hoc, H., 1998.
2... Nhiều tác giả. Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học lớp 7 (Phân bình giảng truyện Có bé bán điêm). Nxb Giáo dục, H.. 1999.