SẮC THƯÓC NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

Một phần của tài liệu Một số bệnh tim mạch ở người cao tuổi (Trang 80 - 94)

Sắc thuốc, đưói góc độ khoa học là m ột quá trìn h p h ân huỷ chiết x u ấ t hoạt chất dưới tác dụng của n h iệt độ.

Người xưa cho rằ n g : Thuốc có công hiệu hay không là do sắc thuốc. D anh y Hải Thượng L ãn Ong hướng dẫn sắc thuốc như sau : "Thuốc m ột lạng thì dùng nước tám lạng, nấu bằng nồi đất, dùng giấy bịt kín m iệng ấm. Thuốc bổ phải sắc nhỏ lửa, còn bốn p h ần . Thuốc công bệnh phải sắ : to lửa còn tám p h ần . D ùng giấy lọc cho trong nước thuốc mói uống. N ếu để đục sức thuốc không lưu hành. Thuốc bổ có th ể tập tru n g bả thuốc của vài th an g lại n ấ u lên m à uóng th ay nước cũng hay.

Thuốc công hạ, p h á t tá n chỉ nên dùng nu'ó'c đầu là hay, không cần sắc nước nhì.."

Một số vấn đề cần lưu ý : Ảm sắc thuốc :

Nên dùng nồi đ ấ t để sắc thuốc, không nên dùng

nồi sắt, nồi đồng, kể cả nồi nhôm để sắc thuốc.

Trong dược liệu có r ấ t nhiều tan in , nếu dùng ấm sắc bằng kim loại, tro n g quá trìn h sắc thuỏc sẽ tạo th an h ta n a t sẳ t, ta n a t đồng, ta n a t nhôm... làm biến đổi chất thuốc. D ùng nồi nhôm đê sắc thuốc, nếu th an g thuốc có các vị chua nh ư Ngũ vị tử, Son tra... nồng ỉộ nhôm trong thuốc sấc r á t cao có thể gây ản h hưủng đến sức khoẻ.

Ngày nay có nh iều loại ấm sắc thuốc bằng điện của N hật, H àn Quốc, T ru n g Quốc. Có th ể sử dụng các ấm sắc trên. N hư ng nên sắc thuôc bằng nồi đât, âm đất...

Nước sắc :

Nén dung nước sạch đê sắc thuốc. T hang có

"đại tễ, tiểu tễ", do vậy lượng nước sắc tuỳ theo th an g to hay th a n g nhỏ m à đố nước cho vừa.

Nguyên tắc là đổ nước phải ngập dược liệu 2 đốt ngón tay. N hững lần sắc thuôc sau thì đổ ít hon lần trước.

Cách sắc thuốc :

Trước khi sắc nên ngâm thuốc vào nước âm hoặc nước lã ít n h ấ t 30-60 phút. Nêu ngâm thuốc trước khi sắc, chất lưọng thuốc sẽ tố t hon là không ngâm và rú t ngắn được thòi gian sắc thuôc.

Nếu là thuốc bổ, nên sắc 3-4 lần. sắ c "văn hỏa"

là dùng lửa nhỏ, sắc lâu. Mỗi lần sắc 60-90 phút.

N ếu là thuốc p h á t tán , thuốc công hạ, nên sắc 2-3 lần. Sắc "vũ hoả” là dùng lửa to, sắc n hanh khoảng 30 p h ú t là đưọ’c.

Một sô vị có cách sắc khác n h au , ví dụ : Các thuốc là khoáng vật cần sắc trước, các thuôc có tin h dầu n hư gừng, bạc hà... thường cho sau khi thuốc đã sắc gần được. N gũ vị tử có tác dụng giảm m en gan r ấ t tố t n h u n g trước khi sắc phải đập dập nhân...

Mỗi thuốc có cách sắc khác nhau. Do vậy cần lưu ý sắc thuốc theo chỉ dẩn của th ầy thuốc.

T Á C D Ụ N G P H Ò N G V À C H Ữ A B Ệ N H C Ủ A Đ Ậ U N À N H

gười dân đảo Crete, m ột hòn đảo phía nam Hy Lạp cùng vói đảo Koham a của N h ậ t đã được hưởng một niềm vinh dự lớn lao : Tỷ lệ tử vong do tim m ạch th ấp n h ấ t trên thê giới. Nghiên cứu của giáo sư Serge R enaud cho phép k ết luận chế độ ăn tru y ền thống Địa T rung Hải bao gồm b án h mì, nhiều rau quả, cá, th ịt gia cầm, rượu nho... có hàm lượng Alpha Linolenic cao. Đây là ch ất có ở lá cây óc chó mà dân đảo thường dùng để ăn sống.

Một loại thực vật khác cũng có nhiều Alpha Linolenic là dầu đậu nành. Đây chính là điều lý giải tại sao dân đảo Koham a N h ậ t có tỷ lệ tử vong do tim mạch th ấp n h ấ t trên thê giới do tập quán ăn nhiều đậu nành.

Giáo sư Serge cho rằn g loại thuốc giảm Cho­

lesterol m áu phải có đến 4 năm mới hiệu nghiệm, trong khi chê độ dinh dưõìig C rete có hiệu nghiệm

trong vài tu ầ n lễ. Alpha Linolenic hoạt động nh ư một ch ất ngăn chặn m áu cục làm nghẽn động m ạch ở tim .

N ghiên cứu của nhà khoa học Mỹ lần đầu tiên được công bô năm 1995 cho th ấy đậu n àn h có chứa chất isoflavone, còn được gọi là phyoestrogen, có tác dụng làm h ạ Cholesterol m áu. Làm giảm LDH- C holesterol - m ột loại Cholesterol có hại. Trong đ ậu n à n h còn có Lecithin, có tác dụng hướng mỡ, có liên k ế t với Cholesterol và hoà tan trong m áu, làm cho C holesterol không bám dính ở th à n h m ạch tạo th à n h m ản g vữa xơ. Tham gia vào chuyển hoá C holesterol th à n h các nội tiế t tô có ích cho cơ thể.

Theo nghiên cứu của Tiến sỹ Jam es Anderson, người có mỡ m áu r ấ t cao nếu dung đậu n àn h th ay th ịt sẽ làm giảm mỡ m áu 19,6 % m à không phải dùng thuốc h ạ mỡ m áu. Các phyoestrogen còn có tác dụng ngăn ngừa ung th ư vú, ung th ư tiền liệt tuyến, ung th ư dạ dày...

Ngoài ra đậu n àn h còn chứa nhiều Canxi, một chất r ấ t cần th iế t cho người cao tuổi để phòng bệnh loãng xương. Người ta khuyên rằng, nên ăn đậu phụ n â u canh hoặc kho vói cá, vitam in D có n h ieu tro n g cá sẽ giúp cho việc hấp th u Canxi tố t hon. V itam in E có nhiều trong đậu n à n h cũng là m ột ch ất chống ôxy hoá hữu hiệu, giúp

cho h ạ n chê quá trìn h lão hoá và dự phong các bệnh tim mạch.

Soyasaponin là m ột ch ất saponin có trong đậu n àn h còn có tác dụng giúp cơ th ể chông lại nhiều loại v iru t n h ư v iru t cúm, v iru t H erpes, v iru t gây bệnh đường sinh dục...

Đậu phụ, tào phớ, tương, sữa đậu nành... là những thức ăn truyền thông của người Việt Nam.

T h ật đơn giản và dễ dàng áp dụng chê độ y thực trị này. Mỗi ngày một vài côc sữa đậu n an h là điều dễ thực hiện !

T Á C D Ụ N G C H Ữ A B Ệ N H C Ủ A C Á

hiều người cho rằ n g cá là th ầ n dược với bệnh tim mạch. Người Eskim o ở Bắc cực ăn toàn mỡ cá m à tỷ lệ người bị cao h uyết ap r ấ t ít và lượng Cholesterol m áu th ấp . Các n h à khoa học tìm th ây trong mỡ cá có ch ất eicosapentaeoic acid và docosahexanoic acid được gọi chung là Omega 3 chưa no. Các ch ất này có tác dụng th am gia tích cực vào nhiều k h âu tro n g quá trin h chuyển hoá lipid trong cơ th ể : Làm tăn g H-DLC (là loại Cholesterol có tỷ trọ n g cao, có lọi cho cơ thể), tăn g cường chất th ư g iãn nội mô, giảm tổng hợp apolipo- protein... Do vậy ăn cá có tác dụng tốt đối với những ai m uốn phòng và đả bị bệnh tim mạch.

Trong cá còn có n hiều vitam in D, tạo điều kiện cho việc hấp th u Canxi của cơ thể. Canxi có giá trị phòng chống loảng xưoug ở ngưòi cao tuổi. Ngoài ra, trong cá còn có nh iều kẽm, là m ột vi chất có ích với sức khỏe con người, có tác dụng phòng chống u xơ tiền liệt tu y ến ở người cao tuổi.

Y học dân tộc cho ràn g "Ngư nhục sinh tinh".

An cá có tác dụng bổ tinh. Tinh - Khí - T hán được coi là "tam bảo" : Là ba th ư cần được bảo trọng của con người.

Dân chài N h ậ t B án và người Eskimo ở Alaska không hề bị nhồi m áu cơ tim , hen suyển, đái đường, th ấp khớp, sỏi t lận, loét dạ dày h àn h tá tràn g là do tập q u án àn cá, cơ th ể họ luôn luôn được hấp thu đầy đủ acid béo Omega - 3.

Hiện nay trê n thị trường có Omega - 3 dưới dạng viên, chiết x u ấ t từ th ân và não cá biển, có thê m ua dễ dàng tạ i các hiệu thuốc. Omega - 3 có tác dụng làm giảm Triglycerides và Cholesterol m áu. Đặc biệt được áp dụng điều trị cho các trường hợp tăn g Triglycerid đơn th u ần . N hiều nghiên cứu cho thây Omega - 3 có tác dụng lam giảm nhồi m áu cơ tim , giảm đường m áu, cải th iện bệnh đái đường (tiểu đường). Giảm sự hìn h th à n h bệnh tắc mạch, cải th iện hử u hiệu các bệnh tim m ạch, cao huyêt áp, stress, suy nhược hoặc béo phì... gọi chung là bệnh của nền văn m inh.

Ngoài ra, Omega - 3 còn có tác dụng giải độc gan, kích thích tiêu hoá, ngủ được, chông táo bón.

Có tác dụng chống viêm xương khớp, cải thiện bệnh thống phong, chống viêm gan, tăn g k h ả năng th ải độc gan. Bô não, nâng cao trí lực và phòng

ngừa suy não, nâng cao năng lực trí tuệ, tăn g trí nhớ.

Om ega - 3 còn có tác dụng ức chế tế bào ung thư , giảm nguy cơ ung th ư tiền liệ t tuyến và ung th ư vú. Chống các bệnh dị ứng n h ư hen suyễn, viêm da dị ứng, bệnh ban đỏ... và giảm các triệu chứng khó chịu khi có kinh nguyệt.

N ghiên cứu của Giáo sư M artin K atan Viện đại học W agenigen (Hà Lan) cho th â y ăn nhiều cá cũng không hẳn đã tốt hơn. Mỗi tu ầ n chỉ nên ăn ba bửa cá hoặc 300g cá / tu ần . N ên ăn cá dưới dạng kho, n ấu canh, hấp, luộc, nướng... Không nên ăn cá dưới dạng chiên rá n không có lợi cho cơ thể.

T Á C D Ụ N G C H Ữ A B Ệ N H C Ủ A M Ậ T G A U

ậ t gâu vị ngọt đắng, tín h hàn, không độc.

Là vị thuốc r ấ t quý được nhân dán sử dụng từ lâu. Theo "Dược liệu T rung Quốc”: m ật gấu có tác dụng th a n h nhiệt, trị động kinh, co giật, sáng m ắt, sá t trùng, sốt vàng da, trẻ em sợ hải, kinh giật, cam tẩ u mã, m ụn đầu đinh, m ụn nhọt ác tinh...

G ần đây, T rung Quốc có dùng để chữa ung thư.

Trong m ật gâu có m ột sô Axít, khoang đa lượng và vi lượng có th ể làm tan sỏi m ật, điều trị đau dạ dày.

Các nhà khoa học Mỹ, Anh, Đức đã tách chiêt được 20% A.URSODESOXYCHOLIC trong m ật gàu, có tác dụng chông viêm, cải th iện tìn h hìn h xơ gan, giảm thoái hóa gan, làm xơ gan không tiến triể n thêm .

Học viện Q uân y đã nghiên cứu dung m ật gâu đê điều trị xơ gan cho kết quả giảm xơ gan, sức khoẻ tốt, tăn g cân, đặc biệt không có tác dụng phụ nào. Khi xơ gan không tiến triể n thêm th ì nguy cơ chuyên sang ung th ư cũng giảm đi. Tuy nhiên m ật

gâu có tác dụng dự phòng hon là điếu trị. T rên thực tê có n h iều bệnh n h ản ung th ư uông m ật gấu có k ết quả giảm đau, kéo dài thòi gian sống.

Theo kin h nghiệm dân gian, m ật gấu còn chữa đuực nhiều bệnh : Viêm gan m ãn, xơ gan, hoàng đản, bệnh gan m ật, cao huyết áp, tai biến m ạch m áu não, bong gân, chấn thương cơ xương khớp, đàn ông b ấ t lực, phòng ngứa ưng thư, trị các bệnh phụ khoa, u làn h buồng trứ n g và tử cung, các chứng sốt cao co g iật, suy nhược th ầ n kinh th ể cường, đau m ắt đỏ, đau răng, hồi hộp sợ hãi, đau dạ dày, giải độc, đ au nhức, giúp tiêu hoá... Có th ể dùng bằng n h iều cách khác n h au như bôi ngoài chữa bong gân, tụ h u y ết ; nhỏ m ắt chữa m ắt đỏ có m àng hoặc uống trong bệnh nội thương.

H iện nay, có phong trào nuôi gâu lấy m ật.

Giá th à n h lm l m ậ t gấu tươi 180 - 250 ngàn đồng.

Ngưoi ta cho rằ n g m ật gấu nuôi không tố t bằng m ật g ấu rừng.

K iên g k y : Vói 2 vị thuốc bắc : Sinh địa và Phòng kỷ.

L iều d ù n g : M ật gâu khô, uống 0,5 - 2g / ngày.

D ung ngoài : P h a rượu bôi tại chỗ chân thương.

(5g pha với lOOml rượu).

M ật gấu khô hoặc tưoi đều có th ể pha được với rượu hoặc m ậ t ong. Liều dùng tuỳ theo bệnh.

T Á C D Ụ N G C H Ữ A B Ệ N H C Ủ A N Ấ M L I N H C H I

Theo Y học cổ truyền, nấm Linh chi (Tên khoa học là G anoderm ataceae Donk) được coi là một loại thượng dược, trên cả n h ân sâm. Linh chi mọc hoang ở rừng núi cao ẩm ướt. Theo tru y ền thuyết, Linh chi có tác dụng huyền diệu đối vói sức khoẻ và tuổi thọ con người. Có tác dụng toàn diện trên các tạn g phủ : Kiện não, bảo can, cường tâm , bình vị, ích phế, giải độc, giải cảm, cưòìig tráng... dùng dài ngày không có độc.

Theo Lý Thòi T rán - m ột n h à y dược học cổ tru y ền nổi tiếng T rung Quốc trong "Lục bảo Linh chi" (1595), Linh chi co nhiều loại khác n h a u : T hanh chi : có tác dụng sáng m ắt, bổ gan, an th ần , tăn g trí nhớ ; Hồng chi: tăn g trí nhớ, dưỡng tim , trị tức ngực, bổ tru n g ; H oàng chi có tác dụng an th ầ n ; Bạch chi có tác dụng ích phổi, thông mũi, cường ý chí, an th ần , trị ho, nghịch hoi ;

Hắc chi có tác dụng chữa bi tiểu tiện ; Tử chi có tác dụng chửa đau nhức xương khớp...

N ấm Linh chi được mô tả ỏ’ T rung Quốc từ th ế kỷ th ứ 17. Trong nh ữ n g năm gần đây, các nước châu A, đạc biệt là N h ậ t Bản, T rung Quôc, H àn Quốc... tập tru n g nghiên cứu về Linh chi. ơ V iệt N am đến năm 1996 đã p h á t hiện 37 loài Linh chi, được phân bô rộng rãi ở cao nguyên Lâm Đồng và ở h ầ u h ết các tỉnh.

Theo các nghiên cứu khoa học, Linh chi có nhiều tác dụng dược lý n h ư : th ư giản cơ, giảm đau, ức chê k ết dính tiểu cầu, chống dị ứng phổ rộng, giải độc gan, bảo vệ gan, giảm Cholesterol m áu, giảm đường m áu, tăn g tổng họp protein, h ạ huyết áp, k háng k h u ẩn vói n h iều loại vi k h u ẩn gram (+) và (-). Đặc biệt có tác dụng chông ung thư, tă n g cường m iễn dịch và điều hoà m iễn dịch, giảm quá trìn h lảo hóa.

ơ nh iều nước, trên thực nghiệm lâm sàng, Linh chi đã được áp dụng cho 300 bệnh n h ân mắc bệnh nhược cơ ở N h ậ t B ản ; Điều trị viêm gan B và th iê u nàng gan ở T rung Quốc. Có nhiều triển vọng đối VỚI bệnh nhân đau th ắ t ngực, rối loạn tu ầ n hoàn não, vữa xơ động m ạch và tăn g huyết áp.

Đặc biệt ỏ' N h ậ t Bản và Đài Loan đã kết họp chữa xạ trị và hoá trị liệu vói L inh chi để điều trị ung

th ư phổi, ung th ư vú, ung th ư dạ dày, ung th ư tử cung và nhiều ung th ư khác. N hững nghiên cứu của T rung Quỏc và Việt N am đã kết luận Linh chi có khả năng làm giảm quá trìn h lão hoá. Do tác dụng tăn g cuừng m iền dịch, Linh chi đã được đưa vào phác đồ điều trị tạm thời cho bệnh nhân HIV - AIDS.

Hiện nay, trên th ị trường Việt Nam đã có nhiều chê phẩm sản x u ât từ nấm Linh chi nh ư trà Linh chi, rượu Linh chi, nước giải k h át, viên Linh chi N hân sâm... ở dạng dược liệu, có nhiều loại Linh chi nhập từ H àn Quốc, T rung Quốc và loại nuôi trồng tại Việt Nam.

Linh chi Triều Tiên vẫn được nh iều người tiêu dùng ưa chuộng. Sử dụng đon giản bằng cách dùng nấm Linh chi đã xay nhỏ hoặc th ái lá t th ậ t mỏng 5 - lOg hãm uống hàng ngày. Có th ể kết họp vói m ột vài dược liệu khác nh ư Câu kỷ tử,Bạch tru ậ t, N hân sâm (mỗi th ứ 5 - lOg), Cam thảo 3g sắc uống hàng ngày có tác dụng bổ dưỡng, tăn g cưòng sức khoẻ.

Một phần của tài liệu Một số bệnh tim mạch ở người cao tuổi (Trang 80 - 94)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(125 trang)