Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.4. Tương quan giưữa môṭsốbiểu hiện hình thái với hàm lương ̣ protein ởlúa
3.4.1. Phân tích các tính trạng nông học (cao cây, năng suất, thời gian sinh trưởng...) của các cây lúa F2
Về thời gian sinh trưởng, qua bảng 3.12., về các giống lúa bố, mẹ chúng tôi thấy, giống P6 là giống có thời gian sinh trưởng dài nhất (169 ngày), giống Khang dân 18 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (109 ngày); Ở các cây F2, có thời gian sinh trưởng dao động từ 110 ngày đến 150 ngày. Giống có thời gian sinh trưởng ngắn là một trong những đặc điểm có lợi cho công tác chọn tạo giống mà các nhà chọn tạo giống hướng tới. Chúng ta thấy, đặc điểm này đã đƣợc duy trì ở một số cây F2 nhƣ a, d, f, i,... của các tổ hợp lai tương ứng KD 18 x P1, KD 18xP290, Q5 x P1, Q5 x P290 (tương ứng với bố mẹ có thời gian sinh trưởng là KD18 109 ngày; Q5 112 ngày; P1 125 ngày; P290 132 ngày). Như vậy, muốn có được giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, ít nhất 1 trong bố hoặc mẹ phải có thời gian sinh trưởng ngắn đồng thời các cây F2 của các tổ hợp lai trên có ý nghĩa nhất định cho quá trình chọn tạo giống.
Theo hệ thống tiêu chuẩn đánh giá nguồn gen lúa của IRRI, chiều cao của cây lúa đƣợc chia làm 3 mức ứng với thang điểm: 1 -Bán lùn; (<110 cm); 5-Trung bình (110-130 cm); 9-Cao cây (>130 cm) (SES, 2002). Theo số liệu của bảng 4 chúng tôi thấy, chiều cao
<110 cm), chiều cao cây của cây lúa F2 dao động từ 90,12 ±2,07 (ứng với cặp lai bố mẹ ban đầu giữa Q5 x P6) đến 97,02±3,45 (ứng với cặp lai bố mẹ ban đầu giữa KD18 x P6).
Qua đây, ta thấy, các cây F2 đều phù hợp với mục đích chọn tạo hiện nay về chiều cao cây (chọn những loại hình thấp cây).
Về chỉ tiêu về chiều dài, rộng của lá đòng đƣợc xác định ở giai đoạn 6 (Giao đoạn trổ bông). Cây lúa ở từng giai đoạn có các lá ở các tuổi hoạt động sinh lí khác nhau, đóng góp khác nhau vào quá trình sinh trưởng của cây lúa. Lá đòng là trung tâm hoạt động sinh lí ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quang hợp và dự trữ chất hữu cơ để nuôi hạt ở giai đoạn vào chắc và nó chuyển các chất đồng hóa cho lúa (Yoshida S.,1981). Qua bảng 3.12. chúng tôi thấy, chiều dài lá đòng ở các giống và dòng (các cây F2) là rất khác nhau, dao động từ 19,85±1,48 cm đến 24,50±1,50 cm, song đều nằm trong khoảng từ 18 – 25 cm, vì vậy chiều dài lá đồng đều ở mức ngắn. Về chiều rộng lá đòng, nằm trong khoảng từ 1,1±0,03 cm đến 1,42±0,04 cm (thuộc mức lá đòng rộng trung bình: 1-2 cm) (Qui phạm khảo nghiệm giống lúa, 2004).
Theo Qui phạm khảo nghiệm giống lúa do Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thông ban hành (2004); khối lƣợng 1000 hạt đƣợc chia ra thành 4 mức: Điểm 1-Rất thấp (<20 gram), Điểm 3-Thấp (20-24 gram), Điểm 5-Trung bình (25-29 gram), Điểm 7-Cao (30-35 gram), Điểm 9-Rất cao (> 35 gram).
Qua bảng 3.12. chúng ta có thể thấy đƣợc giá trị khối lƣợng 1000 hạt (P1000) của các cây bố mẹ nằm trong khoảng từ 22,35±1,15 (gram) - KD18 đến 24,05±1,15 (gram)
- AC5. Thuộc Điểm 3 (Thấp). Qua bảng 3.12. chúng ta cũng thấy đƣợc, khối lƣợng 1000 hạt của các cây lúa F2 nằm trong khoảng từ 22,25±1,09 gram đến 23,32±1,16
gram (thuộc Điểm 3 – Thấp) không sai khác nhiều so với khối lƣợng 1000 hạt của các giống bố mẹ. Theo công thức tính năng suất hạt (tạ/ha) = Số hạt/m2x Số hạt chắc P1000 x 10-5 (Trương Đích, 2000). Từ đấy chúng ta có thể đi tới kết luận, năng suất lí thuyết của các cây F2 nằm trong khoảng trung bình từ 55-60 tạ/ha.
STT Giống và Thời gian
dòng lúa trưởng (ngày)
1 KD18 109
2 Q5 112
3 P1 125
4 P4 137
5 P6 169
6 P290 132
7 AC5 119
8 a 110
9 b 125
10 c 150
11 d 117
12 e 120
13 f 113
14 g 129
15 h 152
16 i 119
17 j 125
Ghi chú: Trong đó: a: cặp lai KD 18 x P1; b: cặp lai KD 18 x P4; c: cặp lai KD18 x P6; d: cặp lai KD 18 x P290; e: cặp lai KD 18 x AC5; f: cặp lai Q5 x P1; g: cặp lai Q5 x P4; h: cặp lai Q5 x P6; i: cặp lai Q5 x P290; j: cặp lai Q5 x AC5
Tương quan giữa đặc điểm hình thái với hàm lượng protein Phân tích kết quả:
Hệ số tương quan của dòng và cột ghi ở ô giao nhau giữa dòng và cột Hệ số tương quan âm (<0) thể hiện mối tương quan nghịch biến, hệ số tương quan dương (>0) thể hiện mối tương quan đồng biến.
Các hệ số tương quan có giá trị tuyệt đối sấp xỉ 0,75 trở lên thể hiện mối tương quan tuyến tính giữa 2 biến, ngược lại hai biến có mối tương quan phi tuyến tính (mối tương quan không chặt).
Bảng 3.13. Hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và một và đặc điểm hình thái
Thời gian sinh trưởng (ngày)
Chiều cao cây (cm) Chiều dài lá đòng (cm) Chiều rộng lá đòng (cm) Khối lƣợng 1000 hạt (P1000) (gram)
Hàm lƣợng protein (%)
Qua bảng 3.13 ta thấy hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, có mối tương quan đồng biến (Hệ số tương quan tương ứng là: 0.557957, 0.084649, >0); hàm lượng protein với khối lượng 1000 hạt, chiều dài, rộng lá đòng có mối tương quan nghịch biến (hệ số tương quan tương ứng là: -0.468259, -0.70611, -0.56156<0).
Trị tuyệt đối của các giá trị tương quan (bảng 2) đều <0,75, do đó mối quan hệ giữa hàm lƣợng protein tổng số và đặc điểm hình thái là phi tuyến.
Điều này giúp ta kết luận: sự thay đổi về mặt hình thái ảnh hưởng tới hàm lượng protein tổng số trong hạt, sự ảnh hưởng này có thể là đông biến hoặc nghịch biến (thời gian sinh trưởng và chiều cao cây ảnh hưởng đồng biến; khối lượng 1000 hạt chiều dài, rộng lá đòng ảnh hưởng nghịch biến tới hàm lượng protein tổng số).
Tuy nhiên sự ảnh hưởng này là phi tuyến tính (không chặt). Hay, giữa đặc điểm hình thái và hàm lượng protein tổng số có sự ảnh hưởng qua lại với các mức độ khác nhau. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây của các tác giả Ahmod (1968),…