Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.5. Tương quan giưữa môṭsốtính trạng chất lượng khác với hàm lương ̣
3.5.1. Hàm lượng amylose, di truyền tính trạng amylose trong lúa gạo
Amylose và amylopectin trong gạo có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nấu nướng và ăn nếm của cơm. Amylose thường không có hoặc có với tỷ lệ rất ít ở các loại gạo dẻo, dính. Loại gạo này không nở khi nấu – thường là lương thực chính của người vùng núi phía Bắc Thái Lan, Lào.
Hàm lƣợng amylose đƣợc phân ra các mức sau: cao (25-30%), trung bình (20-25&), thấp (10-20%). Các giống lúa japonica thường có hàm lượng amylose thấp, cơm của các giống này thường dính và dẻo. Những giống lúa có hàm lượng amylose cao cao thường bị cứng khi để nguội và ngược lại hàm lượng amylose trung bình sẽ không bị cứng khi để nguội.
3.5.2. Mối tương quan giữa hàm lượng protein tổng số và amylose tổng số trong hạt
Phân tích kết quả:
Hệ số tương quan của dòng và cột ghi ở ô giao nhau giữa dòng và cộHệ số tương quan âm (<0) thể hiện mối tương quan nghịch biến, hệ số tương quan dương (>0) thể hiện mối tương quan đồng biến.
Các hệ số tương quan có giá trị tuyệt đối xấp xỉ 0,75 trở lên thể hiện mối tương quan tuyến tính giữa 2 biến, ngược lại hai biến có mối tương quan phi tuyến tính (mối tương quan không chặt).
Bảng 3.14. Hàm lượng protein tổng số của một vài dòng/giống lúa nghiên cứu
Giống lúa
mẹ KD18
Q5
bố ,
P1
cây P4
P6
Các
P290 AC5
KD 18 x P1 KD 18 x P4
F1 KD18 x P6
KD18xP290
cây KD18 xAC5
Q5 x P1
Các Q5 x P4
Q5 x P6 Q5 x P290 Q5 x AC5 KD 18 x P1 KD 18 x P4
F2 KD18 x P6
KD18xP290
cây
KD18 xAC5
Các Q5 x P1
Q5 x P4 Q5 x P6 Q5 x P290
Giống lúa BC1 (KD 18 x P4) BC1 (KD18 x P6) BC1 (KD18xP290) BC1 (KD18 xAC5) BC1 (Q5 x P1) BC1 (Q5 x P4) BC1 (Q5 x P6) BC1 (Q5 x P290) BC1 (Q5 x AC5)
Qua bảng 3.14, ta thấy, các giống lúa nghiên cứu (giống có hàm lƣợng protein cao và thấp, cùng với các con lai) đều có hàm lƣợng amylose ở mức trung bình (thuộc nhóm 20-25%), Với các giống bố, mẹ giống có hàm lƣợng protein thấp lại có hàm lƣợng cao (Bảng 3.5.1). Đối với các con lai, có hàm lƣợng amylose ở mức trung gian giữa bố và mẹ. Điều này có thể ta có thể kết luận có những cá thể con lai có hàm lƣợng amylose thấp hơn bố và mẹ, giúp chúng ta chọn tạo đƣợc những giống có hàm lượng amylose theo mong muốn. Mối tương quan giữa hàm lượng protein và hàm lƣợng amylsoe ở từng thế hệ.
*/ Bố mẹ
Bảng 3.15. Hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và amylose tổng số của bố, mẹ
Hàm lƣợng Protein Hàm lƣợng
Amylose
Qua bảng 3.15 ta thấy hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và hàm lượng amylose là tương quan nghịch biến (hệ số tương quan là: -0.76167).
Trị tuyệt đối của giá trị tương quan (bảng 3.15.) >0,75, do đó mối quan hệ giữa hàm lƣợng protein tổng số và hàm lƣợng amylose là tuyến tính.
Điều này giúp ta kết luận: Giữa hàm lƣợng amylose tổng số và hàm lƣợng protein tổng số có mối quan hệ tuyến tính nghịch (mối quan hệ chặt), khi hàm lƣợng protein trong hạt tăng lên thì hàm lƣợng amylose trong hạt giảm.
*/ Thế hệ F1
Bảng 3.16. Hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và amylose tổng số của con lai F1
Hàm lƣợng Protein Hàm lƣợng
Amylose
Qua bảng 3.16 ta thấy hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và hàm lượng amylose là nghịch biến (hệ số tương quan là: -0.126817). Trị tuyệt đối của giá trị tương quan (bảng 3.16) <0,75, do đó mối quan hệ giữa hàm lượng protein tổng số và hàm lƣợng amylose là phi tuyến tính.
*/ Thế hệ F2:
Bảng 3.17. Hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và amylose tổng số của con lai F2
Hàm lƣợng Protein Hàm lƣợng
Amylose
Qua bảng 3.17 ta thấy hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và hàm lượng amylose là quan nghịch biến (hệ số tương quan là: -0.28378). Trị tuyệt đối của giá trị tương quan (bảng 3.17) <0,75, mối quan hệ giữa hàm lượng protein tổng số và hàm lƣợng amylose là phi tuyến, khi hàm lƣợng protein tổng số tăng thì hàm lƣợng amylose sẽ giảm nhƣng không theo một tỷ lệ nhất định.
*/ Thế hệ BC1F1
Bảng 3.18. Hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và amylose tổng số của con lai BC1F1
Hàm lƣợng Protein Hàm lƣợng
Amylose
Qua bảng 3.18 ta thấy hệ số tương quan giữa hàm lượng protein và hàm lượng amylose là tượng quan nghịch biến (hệ số tương quan là: -0.031301), giá trị tương quan của hàm lượng protein và amylose (bảng 3.18) <0,75, mối quan hệ giữa hàm lƣợng protein tổng số và hàm lƣợng amylose là phi tuyến.
Qua đây ta thấy, giữa hàm lƣợng protein tổng số và hàm lƣợng amylose tổng số giữa các thế hệ có mối quan hệ nghịch biến khác nhau. Có kết quả nhƣ vậy là có thể là do có mối liên hệ giữa kiểu gen và hàm lƣợng protein, hàm lƣợng amylose (Sự ổn định về kiểu gen – độ thuần). con lai ( F1, F2 và BC1F1) mối quan hệ là phi tuyến. Với cây bố mẹ, có mối quan hệ tuyến tính.