Nghiên cứu và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông

Một phần của tài liệu Tri thức cho phát triển đối với công nghệ thế giới (Trang 102 - 105)

CHƯƠNG 2. ĐẦU TƯ CHO KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

2.3. Đầu tƣ nghiên cứu và phát triển trong những lĩnh vực tăng trưởng mới

2.3.5. Nghiên cứu và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông

CNTT&TT và những ngành công nghiệp liên quan là gốc rễ của những thay đổi chủ chốt trong nền kinh tế toàn cầu trong những thập kỷ qua. Năm 2011, ở nhiều nước OECD, các doanh nghiệp chi cho NC&PT CNTT&TT tới 20-25% tổng chi doanh nghiệp cho NC&PT, bằng 0,2-0,3% GDP. Tại Hàn Quốc, Phần Lan, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Thụy Điển, tỷ lệ này chiếm từ 30% đến 50% hay cao hơn trong tổng chi doanh nghiệp cho NC&PT và từ 0,7% đến 1,5% hay cao hơn trong

103 GDP, do cường độ nghiên cứu cao của những nền kinh tế này và của bản thân lĩnh vực này.

Về tổng thể, chi NC&PT CNTT&TT có xu hướng tập trung vào khu vực chế tạo, ngay cả khi việc sản xuất sản phẩm đƣợc thuê gia công ở bên ngoài. Các dịch vụ viễn thông vẫn đóng vai trò thứ yếu trong NC&PT, trong khi dịch vụ CNTT đã xây dựng đƣợc nền móng ở Ai Len và Đan Mạch, những nơi chi NC&PT cho hoạt động xuất bản và nghe nhìn (gồm cả một số hoạt động phát triển phần mềm) chiếm một tỷ lệ đáng kể.

Cường độ chi doanh nghiệp cho NC&PT CNTT&TT thường được phản ánh qua tỷ lệ tương đối của các sáng chế liên quan đến CNTT&TT. Tính chung cho toàn bộ OECD, trong 2009-2011, số sáng chế CNTT&TT chiếm hơn một phần ba tổng số sáng chế đăng ký theo PCT, mặc dù con số này còn ít hơn 5% so với giai đoạn 1999-2001.

Ngƣợc lại, tầm quan trọng của các sáng chế CNTT&TT ở các nền kinh tế BRIICS đã tăng gấp đôi, chủ yếu là do Trung Quốc. Nói chung, tỷ lệ sáng chế máy tính tương đương với các sáng chế của các công nghệ liên quan đến CNTT&TT khác (mỗi nhóm bằng một phần ba tổng số sáng chế trong lĩnh vực này); các dịch vụ viễn thông vẫn chỉ ở mức trên 20% và có vai trò quan trọng hơn trong các nền kinh tế có các sáng chế liên quan đến CNTT&TT chiếm tỷ lệ cao hơn.

Kết nối băng thông rộng

Sự phổ biến băng thông rộng vẫn chưa đồng đều giữa các nước nhƣng tiếp tục gia tăng, đặc biệt là sự dịch chuyển sang kết nối di động băng thông rộng (không dây mặt đất) đã tăng gấp đôi trong 3 năm lên tới trên 60% vào cuối năm 2012. Số lƣợng thuê bao đã đạt trên 100% ở Hàn Quốc, Úc và những nước Bắc Âu, nhưng chỉ ở mức 30% hay thấp hơn ở Slovenia, Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary và Mêhicô. Tỷ lệ thuê bao băng thông rộng cố định ở các nước OECD thay đổi từ trên 35% số người dân (trong 6 nước cao nhất) xuống dưới 20% (trong 6 nước thấp nhất).

104

Nhờ tốc độ kết nối Internet nhanh hơn (băng thông rộng) và giá thành các dịch vụ Internet thấp hơn, các cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận được nhiều dịch vụ mới. Những người dùng Internet giờ đây có thể thường trực trên mạng, thực hiện ngày càng nhiều công việc từ xa và với các thiết bị khác nhau không hề bị gián đoạn. Do vậy, kết nối nhanh và rẻ là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội cũng nhƣ cạnh tranh kinh tế.

Tốc độ băng thông rộng trong khu vực OECD về tổng thể là tương đối cao nhưng sự chênh lệch giữa các nước còn khá lớn. Trong khi tốc độ trung điểm (nước đứng ở vị trí giữa) trên toàn OECD tháng 9/2012 là 12 Mbit/s (tốc độ trung bình là 20 Mbit/s), thì các nước hàng đầu là trên 40Mbit/s còn các nước cuối cùng chỉ là 4 mbit/s hay thấp hơn.

Giá cả các dịch vụ so sánh quốc tế (tính theo sức mua tương đương) cũng có sự chênh lệch lớn từ 60USD PPP hay cao hơn xuống dưới 20 USD PPP cho thuê bao cố định mỗi tháng với tốc độ 15 Mbit/s và dung lƣợng 33GB. Đối với kết nối di động, giá thuê bao của nhóm trung bình (100 cuộc gọi/500Mbit) ở các nước vào khoảng 20 - 40 USD PPP mỗi tháng; ở một số nước có giá vào khoảng 10 USD PPP và một số nước cao hơn 50 USD PPP.

2.4. Đầu tư doanh nghiệp cho nghiên cứu và phát triển

Bảng đánh giá đầu tƣ NC&PT công nghiệp do EU thực hiện cho thấy có 2000 công ty trên thế giới đầu tƣ trên 22,6 triệu EUR vào NC&PT trong năm 2012, thể hiện xu hướng các công ty tiếp tục tăng cường đầu tư NC&PT với một tốc độ đáng kể và cao hơn tốc độ tăng trưởng doanh thu.

Xu hướng trong 8 năm qua cho thấy các công ty có trụ sở tại EU và Hoa Kỳ đã phục hồi mức tăng NC&PT trước khủng hoảng, trong khi đó mức tăng doanh thu thuần, tuy đã phục hồi đáng kể trong giai

Một phần của tài liệu Tri thức cho phát triển đối với công nghệ thế giới (Trang 102 - 105)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(224 trang)