CHƯƠNG 4. CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÂM DỤNG
4.2. Sự phân bố các ngành thâm dụng tri thức và công nghệ
Tuy không mang tính chất cạnh tranh hay hội nhập toàn cầu hoàn toàn nhƣ các ngành công nghiệp thâm dụng tri thức và công nghệ khác, nhƣng các dịch vụ y tế và giáo dục lại là những nguồn lực tri thức và đổi mới chính mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế. Ngành giáo dục đào tạo các thế hệ sinh viên để làm việc trong tương lai trong khoa học, công nghệ và các lĩnh vực tri thức khác. Các trường đại học nghiên cứu là nguồn lực tri thức và đổi mới quan trọng đối với các ngành kinh tế khác.
So sánh quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ y tế và giáo dục là một công việc khó khăn do giữa các quốc gia có sự khác nhau quy mô và
197 sự phân bố dân cư, cơ cấu thị trường và mức độ tham gia và điều tiết của chính phủ mỗi nước. Kết quả là sự khác biệt về giá trị gia tăng trên thị trường có thể không phản ánh chính xác sự khác biệt về giá trị tương đối của các dịch vụ này.
Hoa Kỳ và EU là hai nhà cung cấp dịch vụ giáo dục lớn nhất thế giới, với tỉ lệ là 27% - 30%. Trung Quốc là nhà cung cấp lớn thứ ba, tiếp theo là Nhật Bản. Asia-8 (nhóm các nền kinh tế bao gồm Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan) chiếm 6%. Tỉ lệ của các nước và khu vực trong dịch vụ y tế cũng tương tự, ngoại trừ Nhật Bản cao hơn so với Trung Quốc.
Tỉ lệ lĩnh vực giáo dục và y tế của Hoa Kỳ và EU trên toàn cầu trong giai đoạn 2003-2012 giảm chút ít, trong khi tỉ lệ này của Nhật Bản giảm mạnh đáng kể. Tỉ lệ của Trung Quốc trong giai đoạn này tăng ít nhất là gấp đôi, phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của nước này. Braxin, Ấn Độ và Inđônêxia có mức gia tăng ở tương tự theo tỷ lệ trên toàn cầu. Tăng trưởng giáo dục ở Trung Quốc và Ấn Độ trùng với những gia tăng ở cả hai nước này về số học vị tiến sĩ trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.
4.2.2. Các ngành dịch vụ thương mại thâm dụng tri thức
Giá trị gia tăng toàn cầu của các dịch vụ thương mại GTT trong các lĩnh vực kinh doanh, tài chính và viễn thông là 11,5 ngh ìn tỷ USD trong năm 2012. Các dịch vụ thương mại, trong đó bao gồm các ngành tiên tiến nhƣ lập trình máy tính và dịch vụ NC&PT là ngành công nghiệp dịch vụ lớn nhất (5,6 nghìn tỷ USD), theo sau là dịch vụ tài chính (4,3 nghìn tỷ USD), ngành công nghệ viễn thông chiếm tỉ lệ thấp hơn cả (1,6 nghìn tỷ USD).
Hình mẫu và xu hướng ở các nước đang phát triển
Các nước đang phát triển chiếm khoảng 1/5 giá trị gia tăng toàn cầu của các ngành công nghiệp dịch vụ thương mại GTT. Trung Quốc (chiếm 8% thị phần toàn cầu) là nhà cung cấp lớn nhất trong số các
198
nước đang phát triển, bám sát Nhật Bản với vai trò là nhà cung cấp toàn cầu lớn thứ ba. Các nước đang phát triển lớn khác chiếm tỉ lệ toàn cầu là 2% hoặc ít hơn.
Trong giai đoạn 1997 - 2003, giá trị gia tăng của dịch vụ thương mại GTT đã gia tăng mạnh mẽ, với tốc độ tương đương ở các nước phát triển và đang phát triển. Bắt đầu từ năm 2003, tốc độ tăng trưởng ở các nước đang phát triển gia tăng nhanh chóng, dẫn đến tỉ lệ của nhóm này trong sản lƣợng toàn cầu tăng gấp đôi, từ 10% lên 21% vào năm 2012.
Trong số những nước đang phát triển, Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, chiếm 45% tốc độ phát triển của tất cả các nước đang phát triển trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2012. Tỉ lệ trên toàn cầu của Trung Quốc tăng hơn gấp đôi, đạt 8%, ngang bằng với Nhật Bản là nhà cung cấp thứ ba thế giới. Trong số các dịch vụ thương mại GTT, ngành dịch vụ tài chính của Trung Quốc có mức tăng lớn nhất, điều này thể hiện vai trò quan trọng của các tổ chức tài chính và ngân hàng phát triển sở hữu công hay được hỗ trợ công ở nước này.
Dịch vụ thương mại GTT của Braxin và Ấn Độ cũng đã gia tăng đáng kể, với tỉ lệ toàn cầu của mỗi nước đạt 2%. Các dịch vụ tài chính và viễn thông của Braxin có tốc độ phát triển mạnh mẽ nhất. Dịch vụ thương mại tại Ấn Độ phát triển mạnh nhất, đặc biệt là lập trình máy tính phần nào phản ánh sự thành công của các công ty cung cấp dịch vụ CNTT, kế toán, pháp luật, và các dịch vụ khác cho các nước phát triển. Inđônêxia là nước có tỉ lệ trên toàn cầu thấp hơn Braxin và Ấn Độ những đã có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ hai trong số các nước đang phát triển lớn.
Hình mẫu và xu thế ở các nước phát triển
Công nghiệp dịch vụ thương mại GTT của các nền kinh tế phát triển chiếm 4/5 giá trị gia tăng toàn cầu. Hoa Kỳ có các ngành dịch vụ thương mại GTT lớn nhất, chiếm tỷ trọng 32% giá trị gia tăng toàn
199 cầu. Ngành dịch vụ thương mại GTT của Hoa Kỳ sử dụng 18 triệu lao động, chiếm 14% lực lượng lao động tại Hoa Kỳ, với các mức lương cao hơn trung bình. Ngoài ra, các ngành này tập trung số lƣợng lớn công nhân lành nghề theo tỷ lệ việc làm khoa học và kỹ thuật. Các ngành công nghiệp tài trợ mang lại 1/4 NC&PT trong doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
EU là nhà cung cấp các dịch vụ thương mại GTT lớn thứ hai trên toàn cầu, với tỉ trọng đạt 23% thế giới, tiếp theo là Nhật Bản (9%) về cơ bản tương đương với Trung Quốc.
Sau khi tăng trưởng nhanh trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2008, giá trị gia tăng của dịch vụ thương mại GTT của các nền kinh tế phát triển rút xuống mức thấp vào năm 2009 trước khi phục hồi trở lại vào các năm 2010 - 2012. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển chậm hơn so với các nền kinh tế đang phát triển, chủ yếu là do tốc độ phát triển nhanh chóng của Trung Quốc. Kết quả là, tỉ trọng trên toàn cầu của các nước phát triển giảm từ 90% vào năm 2003 xuống còn 79% vào năm 2012.
Sau giai đoạn phát triển nhanh chóng trước thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu, giá trị gia tăng của các dịch vụ thương mại GTT của Hoa Kỳ giảm trong năm 2009 trước khi tăng trở lại đạt mức 3,7 nghìn tỉ USD trong năm 2012, cao hơn 12% so với mức trước suy thoái kinh tế toàn cầu. Trong giai đoạn 2003 - 2012, tỉ lệ trên toàn cầu của Hoa Kỳ giảm từ 40% xuống mức ổn định 32% từ năm 2011. Việc làm trong các ngành dịch vụ thương mại GTT có sự phục hồi yếu hơn. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu, các ngành dịch vụ thương mại GTT đã mất đi 1 triệu việc làm. Mặc dù việc làm gia tăng khiêm tốn trong giai đoạn 2011 - 2012, nhƣng việc làm trong năm 2012 vẫn thấp hơn 300.000 so với mức mức trước khủng hoảng.
Hoa Kỳ là nhà cung dịch vụ thương mại hàng đầu thế giới, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh của các ngành thương mại GTT của Hoa Kỳ trong giai đoạn 2003 - 2012. Giá trị gia tăng của dịch vụ thương mại