Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây

Một phần của tài liệu Giáo án văn 12 kì 1 CV 5512 (Trang 128 - 138)

A. MỤC TIÊU BÀI HỌC

1. Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây

- Hai câu đầu: Khơi mở mạch cảm xúc cho bài thơ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi, Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”

+ Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kiềm nén nỗi, bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi!

+ Hai chữ “chơi vơi”: vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ  nỗi nhớ da diết, thường trực, ám ảnh; mênh mông, bao trùm cả không gian, thời gian - Câu 3 - 4: Hình ảnh đoàn quân trong đêm trên địa bàn gian lao, vất vả:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

+ Vừa tả thực: Sương mù vùng cao như che lấp, nuốt chửng đoàn quân mỏi mệt: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

+ Vừa sử dụng bút pháp lãng mạn: “Mường

Ngoài ra:

- GV gợi mở cho HS phân tích làm rõ giá trị nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ

- Diễn giảng bình thêm giá trị biểu đạt của một vài chi tiết thơ giúp HS cảm thụ sâu

- Vận dụng bài học về kĩ năng nghị luận về một bài thơ để khai thác giá trị đoạn thơ.

Lát hoa về trong đêm hơi”

 gợi không gian huyền ảo: cảnh vật về khuya phủ đầy hơi sương lạnh giá

 Câu thơ với nhiều thanh bằng: Tạo cảm xúc lâng lâng trong lòng người chiến sĩ khi bắt gặp cảnh hoa nở giữa rừng  Hé mở vẻ đẹp hào hoa, lạc quan, yêu đời của người lính

- Bốn câu tiếp theo: Đặc tả hình thế sông núi hiểm trở nhưng không kém phần thơ mộng của miền Tây trên đường hành quân:

“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Hai câu đầu:

~ Những từ ngữ giàu giá trị gợi hình khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, cồn mây, súng ngửi trời + kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3

 diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp, độ cao ngất của núi đèo miền Tây

~ Hai chữ ngửi trời :

++ vừa đặc tả độ cao chót vót của núi (Người lính trèo lên ngọn núi cao dường như đang đi trong mây nổi thành cồn “heo hút”, mũi súng như chạm đến đỉnh trời) ++ vừa thể hiện tính chất tinh nghịch, khí phách ngang tàng, coi thường hiểm nguy của người lính Tây Tiến.

+ Câu thơ thứ ba với phép đối, như bẻ đôi:

“Ngàn thước lên cao - ngàn thước xuống

 diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như

thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm  hình dung sự khó nhọc trên chặng đường hành quân leo dốc gian khổ

+ Câu thơ thứ tư đối lập với ba câu trên:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

 toàn thanh bằng, âm ơi kết thúc dòng thơ:

câu thơ nhẹ như nhịp thở thư giãn của người lính

 Hình dung: Người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, thấy một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi  tận hưởng cảm giác bình yên, lãng mạn của núi rừng - 6 câu tiếp theo: Người lính còn phải vuợt qua cảnh núi rừng hoang sơ, hùng vĩ :

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

+ Hai câu đầu: tiếp tục miêu tả hình ảnh người lính.

~Cách nói giảm nói tránh về cái chết:

không bước nữa, bỏ quên đời ~Có hai cách hiểu:

 Trên chặng đường hành quân gian khổ, người lính quá mỏi mệt nên kiệt sức, ngủ thiếp đi trong chốc lát

 Người lính hi sinh một cách nhẹ nhàng,

thanh thản như vừa hoàn thành xong nhiệm vụ với Tổ quốc

+ Cái hoang vu, hiểm trở tiếp tục được khai thác theo chiều thời gian:

~ Âm thanh: tiếng “thác gầm thét” trong mỗi buổi chiều, hình ảnh: “cọp trêu người”

đêm đêm

~ Tên những miền đất lạ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch

 gợi không gian hoang vu, rừng thiêng nước độc, đầy bí hiểm.

- Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

+ Cảnh tượng thật đầm ấm: Sau chặng đường hành vất vả, người lính quây quần bên nồi cơm bốc khói

+ Bát xôi nghi ngút khói và hương lúa nếp ngày mùa được trao từ tay em : làm ấm lòng người chiến sĩ, xua tan vẻ mệt mói

+ Kết hợp từ khá lạ, quan hệ từ bị lược bớt:

“mùa em”  làm giọng thơ ngọt ngào, êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn tiếp theo.

*

Tiểu kết đoạn 1:

- Bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa hùng vĩ, hiểm trở , hoang vu, nghiệt ngã vừa độc đáo thú vị và nên thơ.

- Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trong cuộc hành quân là những chiến sĩ anh hùng bất khuất không quản ngại khó khăn vượt qua bao chặng đường gian khổ , bao nhiêu hi

sinh mất mát lớn lao, họ còn là những chàng trai hào hoa lãng mạn tinh nghịch với bao hăm hở khám phá, chinh phục

Thao tác 2: Tìm hiểu Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng

Hướng dẫn HS tiếp cận và cảm thụ bốn câu đầu:

- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: Bốn câu đầu đoạn thơ thứ 2 mở ra không gian và con người khác với đoạn 1. Hãy phân tích làm rõ?

- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ.

- Bước 3: báo cáo sản phẩm.

- Bước 4: Nhận xét và chuẩn kiến thức.

+ GV giảng thêm 4 câu đầu (Không gian đêm liên hoan văn nghệ):

- Trong cái nhìn hào hoa lãng mạn của người lính Tây Tiến, ánh đuốc chiếu sáng buổi liên hoan văn nghệ nơi doanh trại trở thành ngọn đuốc hoa tân hôn ngọt ngào. Còn người đẹp bước ra với xiêm y rực rõ như từ bước ra từ huyền ảo.

- Người lính Tây Tiến nhập cuộc, hòa mình say sưa theo âm điệu dìu dặt, đưa hồn về những chân trời mới, xây hồn thơ với bao mộng ước ngọt ngào:

2. Đoạn 2: Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

- Không gian: ánh sáng lung linh của lửa đuốc, âm thanh réo rắt của tiếng đàn, cảnh vật và con người như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực  huyền ảo, rực rở, tưng bừng, sôi nổi

- Những cô gái Thái: dáng điệu e ấp, tình tứ trong bộ xiêm áo uốn lượn  như cô dâu trong tiệc cưới, là nhân vật trung tâm, là linh hồn của đêm văn nghệ.

- Những người lính:

+ Kìa em: ngỡ ngàng, ngạc nhiên cả sự hân hoan, vui sướng trước vẻ đẹp của cô gái Tây Bắc

+ Say mê âm nhạc với vũ điệu mang màu sắc của xứ lạ  Tâm hồn lãng mạn dễ kích thích, hấp dẫn.

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

+ GV chốt lại ý chính 4 câu thơ đầu đoạn thơ.

Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất, mê say của những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó tách biệt. Với ý nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm nhạc trong miệng.

Hướng dẫn tìm hiểu bốn câu sau:

- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:

+ Bức tranh Châu Mộc chiều sương được miêu tả như thế nào? Bức tranh thiên nhiên ở đây có những nét gì khác với bức tranh cảnh thiên nhiên miêu tả cảnh đèo dốc?

+ Hình ảnh con người hiện lên như thế nào trên dòng sông ấy?

- Bước 2: Trả lời cá nhân.

- Bước 3: Nhận xét

- Bước 4: chuẩn kiến thức

=> Bằng những nét bút mềm mại, tinh tế, tác giả đã vẽ nên đêm liên hoan văn nghệ diễn ra trong không khí ấm áp tình người, tưng bừng, nhộn nhịp có ánh sáng, màu sắc. Gợi nét lãng mạn, tình quân dân thắm thiết.

b. Cảnh sông nước miền Tây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

- Không gian: Dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương; sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử  mênh mông, nhoè mờ, ảo mộng.

- Con người:

+ dáng người trên độc mộc: dáng hình mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái trên những chiếc thuyền độc mộc.

+ Vẻ đẹp của con người hoà hợp với vẻ đẹp của thiên nhiên: những bông hoa rừng cũng “đong đưa”, làm duyên trên dòng nước lũ.

 Những nét vẻ mềm mại, duyên dáng khác

hẳn với những nét khoẻ khoắc, gân guốc khi đặc tả cảnh dốc đèo.

=> Ngôn ngữ tạo hình, giàu tính nhạc, chất thơ và chất nhạc hoà quyện: thể hiện vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của thiên nhiên và con người.

Thao tác 3:Tìm hiểu chân dung người lính Tây Tiến

- Hướng dẫn Hs đọc hiểu đoạn 3: GV đọc đoạn thơ

- Bước 1: Nêu vấn đề cho HS thảo luận: ( Câu hỏi 4 SGK ).

* Nhóm 1,3: Bốn câu đầu

-Hình ảnh đối lập quân xanh màu lá dữ oai hùm cho người đọc thấy phẩm chất gì của người lính Tây Tiến?

- Hai câu thơ Mắt trừng ……...kiều thơm

cần được hiểu như thế nào?Vì sao có thời người ta phê phán ý thơ này, cho là buồn rớt, mộng rớt hoặc cường điêu thiếu tự nhiên?

* Nhóm 2,4:

HS theo dõi đoạn thơ;

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ... Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

-Hình ảnh những nấm mồ lính nằm rải rác nơi biên cương gợi cho em suy nghĩ gì?

3. Đoạn 3: Chân dung người lính Tây Tiến:

* Hai câu đầu: Chân dung hiện thực của người lính:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

- Vừa bi: Ngoại hình khác thường do hiện thực nghiệt ngã:

+ “không mọc tóc”: người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi giáp lá cà, người thì bị sốt rét đến rung tóc

+ “Quân xanh màu lá”: nước da xanh xao do ăn uống thiếu thốn, sốt rét, bệnh tật hành hạ

-Hai câu thơ:Áo bào … độc hành

mang lại ấn tượng gì cho người đọc?

Hình ảnh dòng sông Mã ở đây có gì khác với hình ảnh dòng sông Mã ở câu đầu bài thơ?

- Bước 2: HS thảo luận nhóm, ghi lại kết quả vào phiếu học tập, đại diện trả lời.

- Bước 3: Nhận xét, đàm thoại - Bước 4: Chuẩn kiến thức.

+ GV liên hệ: Nhiều bài thơ chống Pháp cũng nói tới hiện thực này:

“Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ”

(Cá nước - Tố Hữu)

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt rung người vầng tráng ướt mồ hôi”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Nhưng cái hiện thực nghiệt ngã này đã được khúc xạ qua cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng.

+ GV bình giảng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” là một hình ảnh hoán dụ: Đời xanh, tuổi trẻ của họ còn ở phía trước. Nhưng có gì quý hơn là Tổ quốc thân yêu, có tình yêu nào cao hơn tình yêu Tổ quốc. Họ khao khát được ra đi, được dâng hiến, được xả thân vì Tổ quốc.

Hào khí thời đại đã được thể hiện trong hai câu thơ. Nó gợi đến cái âm vang hào sảng của một lời thề “quyết tử

- Vừa hùng: không né tránh hiện thực khốc kiệt của chiến tranh nhưng qua cái nhìn lãng mạn

+ “đoàn binh không mọc tóc”: “đoàn binh”

chứ không phải “đoàn quân” hào hùng, hình ảnh những anh “vệ trọc” nổi tiếng một thời

+ “Quân xanh màu lá” nhưng vẫn “dữ oai hùm”  tính cách anh hùng, nét oai phong dữ dằn như chúa tể chốn rừng thiêng

* Hai câu tiếp: Giấc mộng lãng mạn của người lính.

“Mắt trừng gởi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

- “Mắt trừng”: cái nhìn nẩy lửa đối với kẻ thù

 thể hiện nét oai phong, lòng quyết tâm đánh giặc đến cùng

- “gửi mộng qua biên giới”: chiến đấu dũng cảm nhưng cũng rất nhớ quê hương

cho Tổ quốc quyết sinh”:

“Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi Nào có sá chi đâu ngày trở về

Ra đi ra đi bảo tồn sông núi Ra đi ra đi thà chết không lùi”

“Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường...”

 Tinh thần Nhất khứ bất phục phản của những người chinh phu tráng sĩ thời xưa đã trở thành lí tưởng, khát vọng của chiến sĩ Tây Tiến.

Liên hệ:

“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình Nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc Ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ quốc”

(Thanh Thảo) + GV bình:

++Ngườ lính ra trận, khi chết thậm chí có khi đến chiếu cũng không đủ, đồng đội phải đan cho họ những tấm nứa, tấm tranh. Các bà mẹ chiến sĩ mang chiếu đến tặng cho bộ đội cũng không cầm được nước mắt và chẳng nói nên lời khi đề cập đến mục đích sử dụng chiếu. Thế nhưng, bi thương mà không bi luỵ.

++ Cách nói “áo bào” là cách nói sang trọng hoá. Chinh phu ngày xưa ra trận cũng có tấm áo bào:

“Giã nhà đeo bức chiến bào

- Nỗi nhớ trong giấc mơ:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” : + Nhớ người yêu, những cô gái Hà Thành duyên dáng, xinh đẹp

 đằng sau vẻ ngoài dữ dằn, oai nghiêm là trái tim khao khát yêu thương đầy chất nghệ sĩ (họ mang trong mình một bóng hình lãng mạn)

+ Diễn tả đúng thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ

=> Cảm hứng có bi nhưng không luỵ: ta thấy cái gian khổ của chiến tranh nhưng cũng cảm nhận được vẻ oai hùng, lãng mạn của người lính

* Bốn câu tiếp: Cái chết bi tráng và sự bất tử:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

- Miêu tả cái chết nhưng không bi luỵ:

+ Những từ Hán Việt cổ kính: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”

 tạo không khí trang trọng, thiêng liêng, làm giảm nhẹ cái bi thương của hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng

Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”

“Áo chàng đỏ tựa ráng pha Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”

Các chi tiết được sang trọng hoá cho tương xứng với tất cả những chi tiết về ngoại hình, nội tâm và lí tưởng của họ.

+ GV: Cách nói anh về đất là sự tựu nghĩa của những người anh hùng. Họ thanh thản vô tư sau khi đã làm tròn nhiệm vụ, dâng hiến tuổi thanh xuân cho dân tộc mà không mảy may tiếc nuối. Như thế, cái chết của họ đã thành bất tử.

++Tiếng gầm của dòng sông Mã có ý nghĩa gì?

- Nếu câu thơ trên nhẹ nhàng thanh thản thì câu thơ dưới lại dữ dội, gào thét. Con người thì câm lặng trước nỗi đau, còn thiên nhiên thì gầm lên khúc độc hành bi tráng: Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

- Con sông Mã gắn liền với hành trình của đoàn quân Tây Tiến, chia sẻ mọi buồn vui, mất mát, hi sinh của họ. Cũng chính sông Mã cuồn cuộn chảy về xuôi tấu lên tiếng kèn thiên nhiên bi tráng tiễn đưa linh hồn người chiến sĩ. Từ đó, ta mới hiểu vì sao khi nhà thơ nhắc đến Tây Tiến là nhắc đến sông Mã.

- Hồi kí về Tây Tiến mà nhiều người còn nhắc đến là âm thanh buồn tê tái của tiếng cồng. Khi nghe tiếng cồng vang lên là biết một đồng chí đã qua đời. Tiếng cồng vang lên nhắc những

hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi.

+ Phủ định từ “chẳng” (khác với không- sắc thái trung tính) và cách nói hoán dụ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

 thái độ kiên quyết hi sinh vì Tổ quốc, lí tưởng quên mình thật cao đẹp làm vơi đi cái đau thương

- Hai câu thơ tiếp theo thấm đẫm tinh thần bi tráng:

“Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

+ Áo bào thay chiếu: sự thật bi thảm:

những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, phải mai táng bằng chính chiếc áo các anh mặc hàng ngày.

+ Gọi áo các anh là “áo bào”: nghe trang trọng, thiêng liêng, thể hiện tình cảm yêu thương đồng đội.

+ Cách nói giảm nói tránh “anh về đất”  làm vơi đi cảm giác đau thương  ẩn chứa hàm nghĩa: chết là hoá thân với đất mẹ, là

Một phần của tài liệu Giáo án văn 12 kì 1 CV 5512 (Trang 128 - 138)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(361 trang)
w