Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan hệ dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc ở Việt Nam

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 22 - 27)

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường phát triển của các dân tộc Việt nam

1.2.2.2. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan hệ dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc ở Việt Nam

Đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển bền vững là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử quan hệ dân tộc và con đường phát triến của các dân tộc ở Việt Nam

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ dân tộc, nội dung công bằng xã hội được đặc biệt nhấn mạnh. Người quan tâm nhiều đến công bằng về lợi ích kinh tế, về khâu phân phối và coi đó là mắt khâu kinh tế - chính trị rất quan trọng để thực hiện công bằng xã hội. Người đã mượn lời người xưa để chỉ rõ "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"1. Như vậy, dù giàu hay nghèo thì công bằng cũng vẫn là mắt xích quan trọng nhất

1 Hồ Chí Minh Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Tập 12, tr 185.

của đoàn kết dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, nguyên tắc công bằng xã hội giữa các dân tộc hoàn toàn gắn chặt chẽ với việc đảm bảo quyền lợi của các dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội.

Thực chất bình đẳng dân tộc ở nước ta là các tộc người cùng chung lưng đấu cật thực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta được xây dựng trên cơ sở quyền con người mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trong bản "Tuyên ngôn độc lập" (02/9/1945).

Bình đẳng về chính trị giữa các dân tộc phải được thể hiện ở sự bình đẳng về quyền làm chủ đất nước. Mọi công dân (không vi phạm pháp luật) đều có quyền tham chính, tham gia quản lý xã hội (đúng cả trong Hiến pháp và trong thực tế).

Bình đẳng về kinh tế theo Hồ Chí Minh là nền tảng tạo cơ sở vật chất cho bình đẳng trên các lĩnh vực khác. Trong quốc gia đa tộc người, sự yếu kém về trình độ kinh tế của một tộc người không chỉ cản trở sự phát triển của bản thân dân tộc ấy mà còn là lực cản phát triển chung của cả cộng đồng. Do vậy, từng bước tạo sự phát triển đồng đều giữa các dân tộc là nhiệm vụ quan trọng. Theo Hồ Chí Minh, sự bình đẳng kinh tế giữa các tộc người phụ thuộc vào sự nỗ lực vươn lên của từng dân tộc và có sự giúp đỡ của các tộc người khác, nhất là các tộc người có trình độ phát triển lực lượng sản xuất cao hơn.

Sự bình đẳng về văn hoá giữa các tộc người: đó là sự tôn trọng những bản sắc văn hoá, phong tục tập quán của các tộc người. Sự bình đẳng là sự tạo điều kiện để văn hoá của các tộc người phát triển hài hoà trong sự phát triển

chung của văn hoá đa tộc người, từ đó góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Sự bình đẳng về xã hội là tổng hoà mối quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội giữa các dân tộc. Ở nghĩa hẹp là thông qua thiết chế xã hội truyền thống và thiết chế xã hội hiện đại của các tộc người, coi thiết chế xã hội là yếu tố tích cực, đan xen tác động vào đời sống xã hội cộng đồng các tộc người. Do vậy, cần tôn trọng, tạo điều kiện và cơ hội như nhau để các dân tộc cùng phát triển, đồng thời khắc phục, loại trừ những yếu tố xã hội tiêu cực, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểu số...

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: muốn có sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội thì đặc biệt phải quan tâm đến tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc:

“… Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bác bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình (sự không bình đẳng) trước sẽ sửa chữa đi… Chính phủ sẽ gắng sức giúp đỡ cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:

a. Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng.

b. Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho các dân tộc”1. Như vậy, để thực hiện sự công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, khắc phục sự khác biệt giữa các dân tộc, giữa miền ngược với miền xuôi phải xoá bỏ các thành kiến hẹp hòi cũ, tăng cường sự đoàn kết giúp đỡ nhau giữa các dân tộc; từ đó, khắc phục từng bước sự phát triển chênh lệch giữa các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu bằng sự nỗ lực của chính mình cùng với sự giúp đỡ của các dân tộc anh em phát triển nhanh trên con đường tiến bộ phồn vinh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phê phán những biểu hiện dân tộc lớn

1. Sdd, Tập 4, tr110 - 111.

xem thường dân tộc nhỏ hoặc tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cục bộ, tự ti dân tộc.

Để khẳng định sự công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số trên đất nước ta, Người nói: "Các dân tộc xoá bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ"1.

Để phát triển kinh tế phải chú ý đến đặc điểm của từng vùng miền và có sự phân bố lại dân cư. Miền núi có nhiều thế mạnh lâm sản, cây ăn quả chăn nuôi, khai khoáng nhưng lại kém về giao thông và trình độ văn hoá, dân cư lại quá thưa thớt. “Hiện nay, có hàng chục vạn đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế miền núi. Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi. Và đồng bào miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi. Đó là hai phía, là chính sách dân tộc của Đảng”2. Mọi người phải đoàn kết, các dân tộc phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau để cùng phát triển, cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất bình đẳng dân tộc có thể từ những nhân tố khách quan (sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển do lịch sử để lại; do điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu...

không đồng đều giữa các vùng) và thường là từ những tác nhân chính trị - xã hội do lịch sử để lại và cả những thiếu sót bất cập trong việc đề ra và thực hiện những chính sách hiện hành

Ngày nay Nhà nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì sự bất bình đẳng giữa các tộc người trong một quốc gia đa dân tộc không phải hoàn toàn bị thủ tiêu, mà nó có thể còn tồn tại dưới những biểu hiện khác như: sự phân hoá giàu nghèo, sự kỳ thị tộc người, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc…

Do vậy, bình đẳng, công bằng, tôn trọng trong quan hệ dân tộc không chỉ dựa trên tính pháp lý, mà còn phải được coi trọng về cả mặt tư tưởng nhận

1 . Sdd, Tập 9, tr 587.

thức chính trị, coi đó là nhu cầu phát triển khách quan của cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: muốn bình đẳng, đoàn kết, tương trợ để cùng phát triển phải được bắt nguồn từ sự nối tiếp truyền thống tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam. Truyền thống này đã được phát triển thành chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Hay: Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người chung một nước phải thương nhau cùng.

Sự tương trợ hay tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc phải được thể hiện trong phạm vi cả nước và trong phạm vi từng vùng dân tộc; thực hiện trên tất cả các lĩnh vực bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, bằng sức người, sức của và cả việc làm trọn nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc và Nhà nước.

Trên lĩnh vực này, sự giúp đỡ của Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện sự đầu tư tập trung có trọng điểm phù hợp với nhu cầu phát triển, phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để các tộc người thiểu số chậm phát triển vươn lên, tiến kịp trình độ phát triển chung của cả nước.

Trên đất nước ta, sự công bằng, bình đẳng, hợp tác, tương trợ và tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển giữa các tộc người có mối quan hệ thống nhất hữu cơ không tách rời nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia, chúng hỗ trợ lẫn nhau để hướng tới mục tiêu cuối cùng là làm cho các dân tộc dù lớn hay nhỏ sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc;

cùng tiến bộ vững chắc và đạt tới sự công bằng, bình đẳng thực sự về mọi mặt. Do đó, không thể coi trọng mặt này, xem nhẹ mặt kia. Muốn có sự công bằng, bình đẳng giữa các tộc người thì không có con đường nào khác là các tộc người phải đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ, tương trợ, tôn trọng lẫn

nhau; vượt qua khó khăn, từng bước xoá bỏ cách biệt về vật chất, tinh thần giữa các tộc người tiến tới trình độ phát triển chung, tương đối đồng đều về mọi mặt. Cơ sở quan trọng để thực hiện điều đó là: đường lối, chính sách nhất quán của Đảng, pháp luật Nhà nước về vấn đề dân tộc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để đảm bảo công bằng, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc thì việc thực thi chính sách dân tộc phải đảm bảo phát triển toàn diện đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc, tạo động lực phát triển toàn diện vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại thì vấn đề dân tộc và thực hiện tốt chính sách: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, tôn trọng, kính trọng và tin cậy trong quan hệ dân tộc có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Đó cũng chính là chính sách để đảm bảo sự phát triển bền vững của các dân tộc ở Việt Nam.

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 22 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w