1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường phát triển của các dân tộc Việt nam
1.2.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc
a - Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc
Như trên đã khẳng định: Việt Nam là một quốc gia thống nhất bao gồm nhiều dân tộc, hình thành sớm trong lịch sử. Đó là một cộng đồng người đã cố kết lâu đời với nhau trên lãnh thổ Việt Nam để cùng nhau đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Nước ta có 54 thành phần dân tộc. Có thành phần cư dân có mặt từ lâu đời, cũng có một số thành phần khác đến sau nhưng muộn nhất thì cũng qua nhiều thế kỷ.
Các thành phần dân tộc Việt Nam đã chung lưng, hợp lực, tạo lập nên truyền thống đoàn kết, yêu thương gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, no đói có nhau,
sống chết cùng nhau. Lịch sử hình thành và phát triển của các dân tộc Việt Nam ngày càng bồi đắp cho truyền thống quý báu đó. Từ khi có Đảng, truyền thống ấy được nhân lên gấp bội và trở thành sức mạnh vô địch nhấn chìm bè lũ bán nước, cướp nước để đưa các dân tộc nước ta tiến lên con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ lúc đi tìm đường cứu nước, trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam là một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một tiếng nói" 1. Năm 1946 trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Người căn dặn: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê đê, Xê Đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ có nhau." 2.
Các dân tộc ở nước ta dù đông người hay ít người nhưng dân tộc nào cũng đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp dựng nước và bảo vệ Tổ quốc, cùng đoàn kết gắn bó với nhau vì sự nghiệp chung. Suốt trường kỳ lịch sử trong các thành phần dân tộc trên đất nước Việt Nam chưa bao giờ xuất hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không bao giờ có hiện tượng biệt lập mà xu thế tất yếu ngày càng đoàn kết hoà hợp. Nhân dân các dân tộc ta hiểu sâu sắc các bí quyết để vượt qua mọi gian nan, thử thách nhiều khi có tính chất còn mất của giống nòi là tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết". Đoàn kết là chiến thắng, là thành công. Đó là bài học lớn nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam ta mà bất cứ ai, bất cứ dân tộc nào nếu muốn tồn tại và phát triển đều phải ghi nhớ, giữ gìn và phát huy. Đoàn kết là di sản tinh thần vô cùng quý báu của tổ tiên ta để lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy, nâng lên đỉnh cao rực rỡ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
1 Nguyễn Ái Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp. Nxb. Sự thật, Hà Nội 1975, tr.217.
2 Sđd. Hà Nội 1995, Tập 4, tr.217.
Theo Hồ Chí Minh, xuất phát của việc nghiên cứu chính sách dân tộc chính là từ thực tiễn của cộng đồng đa dân tộc, đa tộc người ở nước ta. Thực tiễn đó đòi hỏi phải xem xét vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trên các bình diện lịch sử và hiện tại của dân tộc Việt Nam.
Người còn chỉ rõ: giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là phải xuất phát từ mục tiêu cách mạng, nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong từng giai đoạn nhất định. Theo Người, sẽ không thể giải quyết được vấn đề dân tộc một cách đúng đắn và có hiệu quả nếu không căn cứ vào đường lối chung và nhiệm vụ cách mạng đặt ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng một Nhà nước dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người nói: "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là tất cả đồng bào các dân tộc đều là người chủ nước nhà"1.
Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Đảm bảo để ngày càng xây dựng và phát triển chế độ dân chủ, đảm bảo dân chủ thực tế cho tất cả mọi người dân.
- Dân chủ về chính trị: đó là điều kiện tiên quyết để dân chủ trong tất cả các lĩnh vực khác.
- Dân chủ về kinh tế: là cơ sở của dân chủ, gốc quyết định của chế độ dân chủ để đảm bảo sự đoàn kết, tôn trọng giữa các dân tộc.
- Dân chủ văn hoá xã hội: đây là chìa khoá để người dân hiểu dân chủ, đấu tranh cho dân chủ, thực hiện dân chủ, hưởng thụ dân chủ và thể hiện ở chỗ:
+ Bình đẳng về giữ gìn bản sắc văn hoá từng dân tộc.
+ Thực hiện "đời sống mới", cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, học tập và thực hành văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.
+ Tạo sự giao thoa và tiếp biến văn hoá.
+ Phát triển giáo dục, bởi vì theo Người "người mù chữ đứng ngoài chính trị".
+ Tạo điều kiện để chuyển giao và tiếp nhận khoa học kỹ thuật tiên tiến.
Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều là của dân, bao nhiêu quyền hành cũng thuộc về dân, quyền hành, lực lượng đều ở trong dân. Dân có quyền làm chủ, đồng thời có nghĩa vụ, trách nhiệm của người chủ. Không có dân tham gia thì Đảng và Chính phủ không có lực lượng.
Không có Đảng và Chính phủ thì không có người đứng ra tổ chức, hướng dẫn hoạt động nhằm phát huy mọi tài trí và sáng kiến của nhân dân để phục vụ dân, chăm lo cuộc sống và phát triển sức dân. Mọi đường lối, chủ trương và chính sách đề ra chỉ cốt nhằm vào mục đích đó từ phát triển kinh tế - văn hoá đến củng cố chế độ chính trị và phát triển xã hội lành mạch, tiến bộ, công bằng và văn minh, làm cho người dân được hưởng quyền dân chủ mà họ xứng đáng được hưởng.
b- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết dân tộc
Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ miền núi ngày 01/9/1962, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "... chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách có hai điều quan trọng nhất là:
Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào" 1.
Vấn đề đại đoàn kết dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt rất nhiều trong các bài nói và viết của Người. Người coi thực hiện chính sách dân tộc chính là đảm bảo thực sự cho đại đoàn kết dân tộc. Do vậy, nó đã được quán triệt trong toàn bộ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay mang một nội dung lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là sự vận dụng trung thành và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn nước ta; đó cũng là sự phát huy đến cao độ những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt
1 Sđd. Tập 10, tr.168.
Nam.
Đoàn kết là bản chất của nhân dân lao động nước ta, nó được phát huy đến cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh. Do cuộc sống đòi hỏi con người đã mang sẵn trong mình tính tập thể, lao động và dựa vào thành quả lao động chung mà sống - đó là đặc điểm chỉ có ở người lao động. Cùng với sự phát triển khổng lồ của lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản, sự tha hoá của con người, chia rẽ con người cũng phát triển đến cực điểm. Sự áp bức nô dịch con người là hậu quả tất nhiên của mọi xã hội có bóc lột và áp bức giai cấp. Sự áp bức của dân tộc này đối với dân tộc khác chẳng qua chỉ là sự thể hiện cái căn nguyên sâu xa đó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa cộng sản khoa học cũng khẳng định rằng: Một dân tộc đi áp bức một dân tộc khác thì bản thân dân tộc đó cũng không có tự do. Khẩu hiệu nổi tiếng của Mác-Ănghen nêu ra chỉ đường cho dân tộc đấu tranh tự giải phóng "không xoá bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ bị xoá bỏ. Khi nào sự đối kháng giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa, thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo"1.
Hồ Chí Minh đã phát triển tư tưởng nói trên, Người khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là cội nguồn, là sức sống mãnh liệt của nhân dân ta, là bí quyết thành công của dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước "Đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau, tăng gia sản xuất để mọi người được cơm no áo ấm..”2. Người khẳng định, chỉ bằng sức mạnh đoàn kết toàn dân mới chiến thắng kẻ thù: "Cần phải đoàn kết, cần phải hợp tác cùng nhau xây dựng nhân dân, dân chủ chuyên chính để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc thành công"3. Đó là bài học lớn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân ta.
Từ buổi đầu dựng nước cho tới ngày nay truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được bồi đắp và phát huy: "Bây giờ chúng ta tất cả mọi dân
1 C. Mác và Ăng-ghen tuyển tập, T1, Nxb. Sự thật, H.1980. tr. 565.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T7, Nxb.Chính trị Quốc gia, H.1996, Tr 166.
tộc Kinh, Thái, Mông, Mèo, Mán, Xá... đều là anh em ruột thịt... Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này. Mỗi dân tộc có bản sắc riêng của mình nhưng tất cả các dân tộc đều gắn bó với nhau trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh khẳng định: người chủ tự nhiên và muôn thuở của đất nước Việt Nam là dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam gồm nhiều dân tộc hợp lại;
có dân tộc đông người, có dân tộc ít người, có miền núi và miền xuôi. Trong quá trình chung sống đã sớm hoà hợp, gắn bó các dân tộc đó với nhau trong một cộng đồng thống nhất và góp phần làm phong phú thêm nền văn hoá chung. Tuy trình độ phát triển có sự chênh lệch nhau, hoặc nhiều, hoặc ít là do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử nhưng từ ngàn xưa các dân tộc đã biết đùm bọc nhau, đồng cam cộng khổ, đoàn kết nhất trí. Bằng mồ hôi, xương máu của mình các dân tộc nước ta đã đoàn kết và cùng nhau xây đắp nên Tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất và giàu đẹp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: vấn đề đại đoàn kết toàn dân là nhiệm vụ có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, đoàn kết dân tộc để cứu nước giành độc lập tự do. Đoàn kết mọi lực lượng, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở khối công nông liên minh do Đảng lãnh đạo. Người khẳng định: "... Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta, chúng ta phải đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ" 1 và
"Đoàn kết chặt chẽ lực lượng trong nước và ngoài nước, chúng ta khắc phục được mọi khó khăn một cách thắng lợi" 2. Nếu đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng cơ bản trong đồng bào các dân tộc chính là đáp ứng yêu cầu tự do, dân chủ của nhân dân lao động. Cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách vững chắc, tranh thủ được rộng rãi các tầng lớp trong đồng bào các dân tộc thì cách mạng thành công. Đồng thời, đoàn kết cần đi liền với giáo dục tuyên truyền, đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết. Hồ Chủ
1 Sđd. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 7, tr 368.
2 Sđd. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập7, tr 368.
tịch luôn nhắc nhở mọi người cần phải khắc phục nhược điểm trong việc hoạch định chính sách, tuyên truyền chính sách và chấp hành chính sách.
Trong cuộc đấu tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: một trong những âm mưu phá hoại của chúng là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là một âm mưu hành động thâm độc quỷ quyệt nhất. Do vậy, chúng ta phải đấu tranh lâu dài và gian khổ.
Từ trước đến nay, các thế lực thù địch vẫn không ngừng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của chúng ta bằng nhiều thủ đoạn, kích động chia rẽ dân tộc nuôi dưỡng tư tưởng hẹp hòi nhằm chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Kẻ thù tìm mọi mánh khoé khoét sâu vào khó khăn của chúng ta, mua chuộc cán bộ, kích động chia rẽ giữa quần chúng và cán bộ, đặc biệt ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn phải: "Đoàn kết thành một khối như ruột thịt..."1 và
"Đoàn kết rộng rãi và lâu dài, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố..."2.
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, đoàn kết dân tộc có nội dung mới là đoàn kết để làm chủ tập thể, đoàn kết để cùng nhau xây dựng chế độ mới, đoàn kết cùng nhau xây dựng nền văn hoá mới và con người mới, thực hiện bình đẳng mọi mặt giúp các dân tộc anh em trong nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: chủ nghĩa xã hội là nguyện vọng tha thiết của nhân dân các thành phần dân tộc Việt Nam ta. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là sự đảm bảo vững chắc cho độc lập tự do của Tổ quốc, là sức mạnh làm nên sự phát triển toàn diện nhất, nhanh chóng nhất, rực rỡ nhất, đạt tới đỉnh cao nhất của cả dân tộc Việt Nam. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm cho khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc hơn, sâu sắc hơn không có thể nào chia cắt được.
Trong điều kiện mới, đại đoàn kết dân tộc phải đảm bảo được công bằng xã hội. Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về
1 Sđd. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, tập 7, tr.543.
mọi mặt giữa các dân tộc, tạo điều kiện xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc. Chính sách đó chỉ mục tiêu cần đạt tới và những điều kiện để thực hiện. Theo Người, bình đẳng dân tộc chỉ có thể thực hiện đầy đủ và hoàn toàn khi đảm bảo thực sự bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số. Ngược lại, quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc càng được củng cố thì các dân tộc càng phấn khởi, đoàn kết chặt chẽ để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chủ tịch luôn luôn căn dặn phải đặc biệt coi trọng công tác vùng cao và vùng biên giới, nhắc nhở các ngành, các cấp có kế hoạch cụ thể, thiết thực đẩy mạnh phong trào miền núi về các mặt kinh tế - văn hoá - xã hội nhằm cải thiện đời sống đồng bào; đó chính là đảm bảo sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ đồng bào các dân tộc là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Tóm lại: Đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh, là điều kiện đảm bảo cho thành công. Đại đoàn kết dân tộc sẽ đạt tới trình độ cao và ngày càng củng cố vững chắc trên cơ sở bình đẳng, tương trợ cùng phát triển.
Ngày nay, Đảng ta tiếp nối quan điểm của Người "Luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đại đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta"1 và muốn đoàn kết thì nhất thiết phải đảm bảo bình đẳng, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, đó là vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.