Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 34 - 50)

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường phát triển của các dân tộc Việt nam

1.2.2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam

Nhân dân các dân tộc Việt Nam đã cùng chịu đựng số phận bị thực dân phong kiến thống trị gần một thế kỷ. Vấn đề trước tiên đặt ra cho cách mạng Việt Nam là phải giành lấy độc lập cho dân tộc.

Quyền tự quyết của từng dân tộc phụ thuộc vào quyền tự quyết của quốc

1 Văn kiện Hội nghị TW lần thứ 7, Khoá IX, NXB, Chính trị Quốc gia, H. 2003, tr29.

gia dân tộc, thống nhất ở việc giành lấy chủ quyền quốc gia. Nhưng giành độc lập bằng con đường nào? Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

a- Cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam phải đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản

Với tầm nhìn của nhà chiến lược vĩ đại, Hồ Chí Minh khẳng định rằng:

Đấu tranh giải phóng dân tộc là tiền đề để đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động, tức là giải phóng giai cấp vô sản gắn liền với giải phóng dân tộc - hai vấn đề này không tách rời nhau.

“Quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại để đánh đổ đế quốc và Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng” 1. Quyết định ưu tiên vấn đề độc lập dân tộc lên trên hết là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp điều kiện và đánh giá đúng mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc đó. Độc lập chủ quyền là khát vọng cháy bỏng của một quốc gia dân tộc có lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm, không khuất phục trước kẻ thù. Bởi lẽ, không có độc lập cho quốc gia dân tộc thì không có giai cấp nào, không tầng lớp xã hội Việt Nam nào có độc lập tự do.

Người chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại và đem lại sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no cho mọi người. Độc lập dân tộc luôn gắn với chủ nghĩa xã hội; là con đường giải quyết triệt để mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam. Nếu chưa có độc lập, tự chủ thì các tầng lớp nhân dân Việt Nam phải đứng lên đấu tranh cho đến khi nước nhà có độc lập tự do.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”2

b. Kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong

1 Sdd. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 3, tr 198.

sáng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp một cách biện chứng. Người chỉ rõ: mối quan hệ đó là nguyên tắc chiến lược của cách mạng, là nhân tố đảm bảo cho cách mạng Việt Nam thắng lợi. Đảng phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được Hồ Chí Minh khắc phục những hạn chế của lịch sử và phát triển lên tầm cao mới. Giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ độc lập để tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đoàn kết dân tộc đứng trong hàng ngũ cách mạng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc với những mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trong cách mạng mỗi nước cũng như quan hệ quốc tế không phải lúc nào lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế cũng phù hợp, thống nhất với nhau. Phép biện chứng là ở chỗ: không thể lấy lợi ích quốc tế làm tan biến lợi ích dân tộc và giai cấp; cũng như không thể lấy lợi ích dân tộc, giai cấp đối lập với lợi ích quốc tế. Phải dựa vào từng điều kiện cụ thể để giải quyết: “...

Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa”1. Do vậy, cần phải chú trọng phát huy truyền thống yêu nước đoàn kết các dân tộc trên lập trường giai cấp vô sản, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, mọi tổ chức, cá nhân trên nền tảng liên minh công nông trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

c- Bình đẳng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người

Hồ Chí Minh đã từng nói: Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì. “Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người, các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung

1Sdd. NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 12, tr 305.

sướng”1. Điều đó có ý nghĩa là quyền bình đẳng dân tộc chỉ có thể được thực hiện khi dân tộc được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn tự do, ấm no, hạnh phúc. Theo Hồ Chí Minh, nước ta là nước gồm nhiều dân tộc, quyền bình đẳng các dân tộc thực chất là quyền bình đẳng con người, chúng ta phải thi đua diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Tổ quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn, chúng ta thực hiện được: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bình đẳng dân tộc gắn bó với sự đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Người cho rằng, đất nước ta gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống; tất cả các dân tộc được bình đẳng, tất cả như anh em trong một nhà, không có sự phân chia nòi giống, tiếng nói.

Các dân tộc đều có quyền bình đẳng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá… Chính phủ sẽ giúp đỡ mọi mặt cho đồng bào các dân tộc. Các dân tộc phải đoàn kết, phải tương trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Người kêu gọi các dân tộc sống trên cõi Việt Nam phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, giúp đỡ nhau: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta là không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”1. Người luôn luôn căn dặn tránh:... tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc.

1.2.2.5. . Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế - văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số

Phát triển kinh tế - văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số được Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng và coi đó là một bộ phận hợp thành của toàn bộ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng xuyên suốt của Người về xây dựng và phát triển miền núi là làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội...

1Sđd. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, Toàn tập, Tập 10, tr 317.

-Trên cơ sở xem xét cụ thể tình hình, đánh giá thực trạng của miền núi về tài nguyên, cư dân, con người và xã hội trong tiến trình lịch sử, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vị trí, vai trò và tiềm năng của miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

+ Về tiềm năng kinh tế

Miền núi nước ta có nguồn tài nguyên rất phong phú, đó là "rừng vàng",

"rừng tiền" của cả nước, đồng thời cũng là khu vực quan trọng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp. Thế mạnh đó là khả năng đất đai canh tác (trồng hoa màu, cây lương thực, cây công nghiệp, trồng rừng...); khả năng chăn nuôi; khả năng xây dựng những trung tâm công nghiệp như: khoáng sản, điện lực, luyện kim, chế biến nông sản và lâm sản. Theo Người, các sản phẩm của rừng có đủ loại có thể đổi lấy nhiều máy móc, hàng hoá, còn các loại quặng có thể xây dựng công nghiệp để phát triển kinh tế.

+ Vấn đề cư dân ở vùng dân tộc thiểu số

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Người nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn ai hết về các dân tộc thiểu số ở nước ta không những có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn có truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo. Bác nhận định: Con người và truyền thống lịch sử, văn hoá chính là yếu tố quan trọng hàng đầu, vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy các quá trình thúc đẩy kinh tế - xã hội ở miền núi nước ta.

+ Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số

Người chỉ rõ: "miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế "1. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta sống chủ yếu dọc theo tuyến biến giới Việt Nam với các nước; là cửa ngõ và đầu mối để phát triển kinh tế, giao lưu và tiếp biến văn hoá, xây dựng tình hữu nghị và hợp tác về mọi mặt. Lợi thế này nếu tận dụng triệt để và hợp lý sẽ

1Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội 1984, tr 449-420.

thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế, văn hoá nhằm cải thiện đời sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số.

Như vậy, trong lịch sử cũng như trong hiện tại, miền núi nước ta có vị trí quan trọng và có những điều kiện thuận lợi làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển kinh tế, văn hoá. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng ta phải quan tâm sát sao đến những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số.

Do điều kiện tự nhiên, địa lý cách trở về giao thông liên lạc, lại thêm sự áp bức bóc lột của bọn đế quốc và phong kiến nên trình độ phát triển kinh tế- văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, vẫn tồn tại những hủ tục, mê tín dị đoan… Người nói rằng: “Ngày nay đồng bào rẻo cao được tự do, bình đẳng không bị áp bức bóc lột như trước kia. Nhưng đời sống vật chất và văn hoá chưa được nâng cao mấy"1. Theo Người, làm cách mạng là giành độc lập dân tộc, mà độc lập rồi mà dân cứ đói rét, chỉ một bộ phận người được hưởng hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì. Bởi vậy, "đồng bào, cán bộ cần chú ý giúp đỡ đồng bào rẻo cao vì ở đấy làm ăn khó nhọc hơn, văn hoá cũng chậm phát triển hơn"2 và Người yêu cầu Đảng và Chính phủ phải có chính sách phát triển kinh tế - văn hoá, tìm ra những biện pháp và bước đi thích hợp để phát triển toàn diện, nhằm đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, để đồng bào ai cũng được học hành, ai cũng được làm chủ đất nước. Vận dụng nó trong từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của miền núi, Người cho rằng :

"Muốn phát triển kinh tế - văn hoá miền núi, ngoài việc xây dựng phát triển phải tiến hành cải tạo miền núi, cải tạo một cách toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hoá nhằm "đánh thắng giặc nghèo khổ, lạc hậu" làm thay đổi cơ bản bộ mặt đất nước và con người miền núi.

- Nhiệm vụ và yêu cầu phát triển kinh tế - văn hoá ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Phát triển kinh tế - văn hoá ở miền núi phải nằm trong tổng thể quy hoạch

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr 323.

của kinh tế cả nước. Nó có yêu cầu chung và cụ thể trong từng thời kỳ. Nhưng với những đặc điểm của miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra yêu cầu chung của phát triển kinh tế - văn hoá là: tăng cường đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào. Theo Người, phải lấy nông nghiệp làm khâu đột phá tạo điều kiện và tiền đề phát triển công nghiệp hoá sau này. Trong nông nghiệp cần phải tiến hành đồng bộ, kết hợp giữa các khâu phát triển hợp tác xã, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Người nhận định: "... Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm làm cho đồng bào địa phương khá hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Sản xuất phải toàn diện"1. Tuỳ vào điều kiện của từng địa phương, nền nông nghiệp miền núi phải được tổ chức trên cơ sở phản ánh đúng đặc thù, trình độ canh tác, tập quán sản xuất...

mà phát triển cây lương thực, cây ăn quả hay cây công nghiệp.

Trong quá trình xây dựng phát triển nền kinh tế miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc cải tiến và áp dụng khoa học kỹ thuật vào các ngành nông, lâm nghiệp, cải tiến công cụ, chống xói mòn. Đẩy mạnh ngành chăn nuôi, nghề rừng và phát triển cây công nghiệp. Kết hợp chặt chẽ công nghiệp địa phương, thủ công nghiệp và sản xuất chế biến.

Mặt khác, Người nhấn mạnh đến việc phát triển giao thông, mở mang đường xá đến từng bản làng các dân tộc thiểu số sinh sống. Bởi miền núi nước ta do địa hình hiểm trở từ ngàn xưa, việc đi lại, giao thông gặp muôn vàn khó khăn. Để nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần có đường giao thông thuận lợi. Bên cạnh đó, phải xây dựng được những cơ sở y tế, mạng điện đến cho đồng bào miền núi. Điều đó sẽ mang lại hiệu quả phát triển kinh tế, đáp ứng những vấn đề xã hội, phát triển văn hoá, nâng cao dân trí.

Giải quyết được những vấn đề trên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài nhưng kết quả đạt được như thế nào chính là

1Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tr.418.

thước đo sự phát triển kinh tế - xã hội; thước đo việc thực hiện chính sách dân tộc "bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ”

của Nhà nước ta.

Việc phát triển văn hoá ở miền núi, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự nghiệp giáo dục, theo Người đó là một nhu cầu cần thiết, bức bách nhằm khắc phục sự lạc hậu, chậm trễ của miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Do hậu quả của chế độ thực dân phong kiến để lại… dưới thời thực dân Pháp thống trị, số đông nhân dân không được đi học, không biết chữ..., do vậy nay nước ta đã độc lập, dân ta được tự do thì cần phải thanh toán cho hết nạn mù chữ. Đó cũng chính là một giải pháp để kinh tế, chính trị, văn hoá đều tiến bộ, các dân tộc đều đoàn kết với nhau. Có như vậy, đời sống văn hoá mới không ngừng được nâng cao, con em các dân tộc mới có điều kiện được tiếp cận với nền văn hoá khoa học kỹ thuật tiên tiến. Đồng thời thông qua đó nhằm đào tạo một đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có trình độ khoa học kỹ thuật cũng như trình độ quản lý, đáp ứng yêu câù của công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - văn hoá miền núi.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng các trường học tập trung học phổ thông nội trú, vừa học vừa làm và Người khuyến khích: “Loại trường đó rất tốt, cần giúp cho những trường đó phát triển đúng hướng, những tỉnh chưa có phải cố gắng mở những trường như thế”. Mặt khác, phải đào tạo được một đội ngũ thầy cô giáo vững về chuyên môn, thực sự thương yêu học sinh là con em các dân tộc thiểu số. Đội ngũ cán bộ này cần được hưởng một chính sách đãi ngộ xứng đáng và được tạo điều kiện tốt để phát huy năng lực và nhiệt tình trong công tác - có như vậy thì công tác văn hóa mới đến được với đồng bào các vùng sâu, vùng xa.

- Bản sắc văn hoá dân tộc ta thể hiện rất đa dạng, xuyên suốt và thắm đượm vào toàn bộ đời sống xã hội. Nó có mặt ở khắp nơi trong văn hoá vật chất lẫn tinh thần, in đậm vào từng cá thể, cộng đồng và qua đó quyết

định cốt cách của từng dân tộc. Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng, song lại không hề tách biệt, cô lập mà là một thành tố góp vào sự thống nhất của chỉnh thể văn hoá dân tộc Việt Nam.

Phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số phải mang tính bền vững, hài hoà, là điều kiện để phát triển văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: mỗi dân tộc phải chăm lo và “chú ý phát huy cốt cách dân tộc”. Việc bảo lưu và phát triển văn hoá của từng dân tộc là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - văn hoá miền núi, điều này có quan hệ chặt chẽ với việc xây dựng, phát triển kinh tế - chính trị - an ninh quốc phòng của cả nước. Người luôn luôn căn dặn phải chăm lo đến đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số và nhấn mạnh công tác văn hoá xã hội ở miền núi phải khẩn trương, tích cực.

Theo Người, cán bộ, chiến sĩ công tác ở vùng dân tộc thiểu số phải tôn trọng phong tục tập quán, tín ngưỡng của bà con. Nếu để cho đồng bào dân tộc thiểu số không biết chữ; chúng ta không hiểu đồng bào cần gì, muốn gì;

văn hoá truyền thống không được bảo tồn, mai một dần; khoa học - kỹ thuật thấp kém… là làm nghèo nàn nền văn hoá dân tộc Việt Nam.

Đồng bào các dân tộc thiểu số có những truyền thống văn hoá quý báu cần giữ gìn và phát triển, song mặt khác hiện vẫn tồn tại những hủ tục và mê tín. Bác thường nhắc nhở: Vệ sinh còn kém, lấy vợ chồng quá sớm… Những hủ tục khác như cúng bái, ma chay còn nhiều. Có nơi nuôi gà, nuôi lợn được bao nhiêu giết để cúng gần hết. Đó là hiện tượng xã hội tiêu cực, nhưng đã bám rễ, ăn sâu vào lối sống, nếp nghĩ của bà con, trở thành phong tục tập quán lâu đời cần phải cải tạo, làm dần dần, bền bỉ chứ không thể chủ quan nóng vội.

1.2.2.6. . Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách cán bộ dân tộc thiểu số Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ của nhân dân ta có sự đóng góp đáng kể của đội ngũ cán bộ vùng dân tộc thiểu số. Nhận

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 34 - 50)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w