Thực tiễn cách mạng Việt Nam trên 70 năm qua chứng minh sức sống mạnh mẽ của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, về đại đoàn kết dân tộc. Tư tưởng đó của Người đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong sự nghiệp đổi mới, tại các đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, gần đây là tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá IX và tại Đại hội X, XI vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, về đại đoàn kết dân tộc càng được chú ý và nêu ra đầy đủ trên mọi phương diện.
Nhà nước ta đã thể chế hoá và biến các quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta thành hàng loạt các chính sách, chương trình, dự án để thực hiện ở các vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Từ năm 1998 trở về trước, có 21 chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số. Từ năm 1999 đến nay, một số chương trình dự án lớn được xây dựng và thực hiện lồng ghép thành công trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Như chương trình xoá đói giảm nghèo - CT 133; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, vùng sâu vùng xa - CT 135;
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên - CT 168; Chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long - CT 173;
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn vùng miền núi phía Bắc - CT 186; Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn - CT 134;
Chính sách trợ giá, trợ cước vận tải một số mặt hàng thiết yếu cho vùng dân tộc, miền núi - QĐ 20; Chính sách cấp không thu tiền một số loại báo, tạp chí
cho vùng dân tộc, miền núi - QĐ 1637.
Ngoài ra, còn có các Chương trình trồng 5 triệu ha rừng; nước sạch và vệ sinh môi trường; y tế cơ sở; Chương trình kiên cố hoá trường lớp - CT 159.
Và, còn rất nhiều chương trình, chính sách khác đã và đang thực hiện trên địa bàn vùng đặc biệt khó khăn, vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Ngày 7-12-2005, Thủ tướng Chính Phủ đã ra Quyết định số 1277/QĐ- TTg phê duyệt Đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý Nhà nước và phương thức công tác dân tộc”. Ngày 10-6-2006, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 07/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010. Đó là sự quan tâm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc một cách cụ thể, thiết thực trong thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta.
Ở đây, chúng ta cần nắm vững những quan điểm chỉ đạo, giải pháp chủ yếu trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, về đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, từ chính các chủ trương chính sách nói trên của Đảng và Nhà nước.
1.3.1. Giáo dục tư tưởng đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
- Giáo dục tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đang đứng trước những thời cơ lớn đan xen cùng các nguy cơ và thách thức. Hơn lúc nào hết, hiện nay chúng ta cần quán triệt tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh, coi đại đoàn kết dân tộc không chỉ là động lực của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà còn là động lực mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo nên sức mạnh thúc đẩy đất nước vượt
qua tình trạng kém phát triển, đuổi kịp các nước trong khu vực để từng bước thực hiện hoài bão lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, có thể sánh vai cùng các cường quốc trên năm châu, bốn biển.
Mục tiêu trước mắt trong thực hiện tư tưởng Đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là nhằm củng cố và tăng cường tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Muốn vậy cần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở thiết lập khối liên minh công nhân-nông dân-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Điểm tựa, điểm tương đồng để xây dựng nên khối đại đoàn kết dân tộc này là mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Trên cơ sở điểm tương đồng đó, xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.
Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội. Thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước. Xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc.
- Giáo dục tư tưởng các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong sự nghiệp đổi mới
Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam đều có quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu gây kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển đồng bộ các mặt chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi. Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc. Quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi.
Trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo. Khai thác tiềm năng, thế mạnh từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương cả nước.
1.3.2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, tại đại hội X, Đảng ta khẳng định rõ:
“Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng
nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số.
Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận.
Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”1.
Mục tiêu chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc. Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%. Giảm dần khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ điện nước sinh hoạt.
Xoá tình trạng nhà tạm, nhà dột nát. 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn. Hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; chấm dứt tình trạng di cư tự do. Giải quyết cơ bản vấn đề đất sản xuất cho nông dân thiếu đất. Ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái.
Để đạt được mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Trong những năm trước mắt, tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn. Giải quyết ngay
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 121-122.
những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu. Xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơ me Nam Bộ.
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới. Xây dựng quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững, gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng.
1.3.3. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc, đặc biệt vùng sâu, vùng xa
Nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào. Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo. Đẩy mạnh việc dạy và học chữ dân tộc. Hầu hết đồng bào nghèo ở vùng sâu, vùng xa cần được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ các dịch bệnh ở vùng dân tộc. Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình; 100% được nghe đài phát thanh. Các giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát triển.
Để đạt mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước có nhiệm vụ tiếp tục thực hiện các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình. Tăng cường các hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở. Tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số. Làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hoá của các dân tộc.
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp. Đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập. Mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hoá, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng. Mở thêm trường dự bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số.
Tăng cường cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp.
Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khuyến khích trồng và sử dụng thuốc dân gian.
1.3.4. Giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số phần lớn tập trung ở khu vực miền núi, nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, vùng kinh tế tiềm năng với những lợi thế so sánh trong phát triển. Đồng thời, đây cũng là vùng biên giới, vùng đầu nguồn xung yếu gắn với lợi ích và an ninh quốc gia.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là giữ vững an ninh quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở các địa bàn xung yếu vùng sâu, biên giới, ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội.
Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc miền núi.
Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi. Kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Để những chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng nói trên được thực hiện tốt, cần thực hiện các giải pháp cơ bản có tính đồng bộ.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới. Xem việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của các cấp uỷ, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương.
Tuyên truyền giáo dục các chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước cho mọi cán bộ, Đảng viên và nhân dân. Phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi cho đông bào các dân tộc thiểu số.
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc và miền núi. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới.
Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, giúp đỡ vùng dân tộc và miền núi. Ưu tiên đầu tư cho xoá đói, giảm nghèo, phát triển nhanh kinh tế - xã hội, giải quyết những khó khăn bức xúc của đồng bào vùng dân tộc và miền núi. Trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn. Thực hiện nghiêm chỉnh việc công khai hoá các chính sách, chương trình, dự án, vốn