Quan điểm, đường lối, chủ trương và chính sách dân tộc của Đảng ta trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 66 - 98)

Chương 2 QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH

2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.2.1. Quan điểm, đường lối, chủ trương và chính sách dân tộc của Đảng ta trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc

2.2.1.1. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng 1930 -1945

Việt Nam là một quốc gia dân tộc, có nhiều cộng đồng tộc người (ethni), ngoài dân tộc Kinh, còn có nhiều dân tộc thiểu số, tập trung ở các miền rừng núi rộng lớn chiếm hơn 40% diện tích toàn quốc, nhất là ở miền thượng du Bắc Bộ và Tây Nguyên, Trung Bộ. Trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước, ý thức cộng đồng quốc gia dân tộc (nation) đã sớm hình thành, ngày càng củng cố và phát triển.

Từ khi thực dân Pháp xâm chiếm nước Việt Nam, sử dụng bọn phong kiến phản động để thống trị và bóc lột đồng bào các dân tộc. Chính sách của chúng là đánh sưu cao, thuế nặng, duy trì những hình thức bóc lột phong kiến, chia rẽ các dân tộc này với dân tộc khác, chia rẽ các dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh; đầu độc các dân tộc bằng thuốc phiện, rượu, v.v... Tất cả các dân tộc

ở Việt Nam đều bị áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, kìm hãm về văn hóa.

Trong khi đó, trình độ phát triển giữa các dân tộc vốn không đều nhau. Kinh tế miền rừng núi là kinh tế tự nhiên, có tính chất tự cung tự cấp. Lối canh tác còn thô sơ, dụng cụ thiếu thốn, tiểu công nghệ và thương mại chưa phát triển;

còn nhiều tập quán lạc hậu. Hiện tượng mê tín, dị đoan vẫn tồn tại trong nhân dân. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đã đã sử dụng các vũ khí tư tưởng phong kiến và tư sản, đoàn kết và anh dũng đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy”, nhưng rốt cuộc đều thất bại.

Năm 1917 Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, họ thoát khỏi "nhà tù của các dân tộc". Cách mạng tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức, đã "mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc"1.

Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành nên những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam với với thực dân Pháp và tay sai phản động. Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức. Trái lại, sự xung đột, đấu tranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảm thiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh dân tộc. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ vấn đề này, rằng: "Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được". Nguyễn Ái Quốc nhận thấy độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của tất cả các dân tộc ở thuộc địa. Năm 1919, Người gửi tới Hội nghị Vecxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Để đưa sự nghiệp giải phóng

dân tộc đến thành công, Người chủ trương thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, coi tất cả các dân tộc ở Việt Nam đều là “con dân nước Việt”, “con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Đường lối, quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng thể hiện trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, hướng nhân dân các dân tộc vào cuộc đấu tranh “làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do”.

Từ tháng 10-1930, với Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (Dự án cương lĩnh), nguyên tắc cơ bản của Đảng là bảo đảm quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Tuy nhiên vấn đề dân tộc nói chung từ lúc này được giải quyết trên toàn Đông Dương.

Trong Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương (6- 1932), quan điểm, đường lối dân tộc của Đảng thể hiện qua việc xác định

“Những yêu cầu của các dân tộc thiểu số ở Đông Dương”. Đảng cho rằng:

Từ lúc Đông Dương bị chiếm cứ, đế quốc chủ nghĩa vẫn thi hành chính sách chia rẽ và duy trì lòng ác cảm của dân tộc này đối với dân tộc khác. Đế quốc chủ nghĩa chiếm đoạt đất đai của các dân tộc ở miền núi không chịu quy phục. Đế quốc dã man bắn giết đàn áp thẳng tay, cố bịt mắt bưng tai họ lại.

Các dân tộc nhỏ yếu ở Đông Dương dốt nát chậm chễ, không phải vì bản tánh của họ, mà chính vì chính sách dã man của đế quốc... Đảng kêu gọi các dân tộc thiểu số đồng dấy lên:

- Đánh đổ chính sách chia rẽ, chính sách gây oán sinh thù của đế quốc chủ nghĩa!

- Chống sự cướp đất và cướp rừng.

- Bỏ hết các lệ làm công sưu và công ích cho bọn phong kiến lớn và nhỏ.

Đánh đuổi hết các bọn phong kiến và bọn tù trưởng đã bán mình làm tôi tớ cho đế quốc. Bầu ra những ủy ban nông dân1.

Đại hội lần thứ I của Đảng (3-1935) ra nghị quyết về công tác dân tộc thiểu số. Đại hội nhấn mạnh: “Một điều thắng lợi cho cộng sản chủ nghĩa nữa là:

công nông các dân tộc thiểu số chẳng những đã vào hàng ngũ Đảng Cộng sản và các đoàn thể cách mạng khác do Đảng chỉ đạo mà thôi, mà họ đã giữ một địa vị rất quan trọng trong các cơ quan chỉ đạo từ hạ cấp cho tới thượng cấp (như Xứ uỷ người Lào, người Thổ). Đại hội chắc chắn rằng ở các xứ và các miền dân tộc thiểu số đã có điều kiện khách quan sẵn sàng cho sự phát triển cách mạng vận động, Đảng Cộng sản cần tổ chức công nông thêm vào hàng ngũ tranh đấu để nâng cao điều kiện chủ quan và để làm cho quá trình phát triển cách mạng ấy mau tới trình độ cao rộng thêm”.

Đại hội tiếp tục khẳng định khẩu hiệu “cho các dân tộc được quyền tự quyết” đã đề xướng năm 1932 trong Chương trình hành động của Đảng và đã được Quốc tế Cộng sản hoàn toàn đồng ý. Đại hội yêu cầu các đảng bộ giải thích cho quần chúng lao động Việt Nam và các dân tộc thiểu số ý nghĩa quan trọng của khẩu hiệu “quyền dân tộc tự quyết” và tầm quan trọng của sự liên hợp các dân tộc với nhau để chống đế quốc xâm lược. Đại hội khẳng định:

“a) Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn. Đảng chống chế độ thuộc địa, chống hết các hình thức trực tiếp và gián tiếp đem dân tộc này đàn áp và bóc lột dân tộc khác.

b) Sau khi đánh đổ được ách đế quốc Pháp ra khỏi xứ Đông Dương rồi, các dân tộc có quyền tự quyết, nghĩa là tuỳ theo ý chí của họ, họ muốn theo Liên bang Cộng hoà Xôviết Đông Dương, hoặc muốn lập ra nhà nước độc lập, muốn theo chính thể nào cũng được, chính phủ Xôviết công nông binh Đông Dương quyết không can thiệp và ngăn trở.

1 Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, Văn kiện Đảng Toàn tập, t4, Nxb.

c) Đảng Cộng sản quyết không bao giờ chủ trương bắt buộc các dân tộc hoàn toàn thoát ly Liên bang Cộng hoà Xôviết Đông Dương. Trái lại phải luôn luôn giải thích cho các dân tộc sự cần thiết và lợi ích liên hợp đệ huynh các dân tộc ở Đông Dương với nhau để củng cố chính quyền Xôviết, tăng lực lượng cách mạng, chống các quân thù giai cấp, hợp tác kiến thiết kinh tế Xôviết, dự bị chuyển biến cuộc cách mạng tư sản dân quyền sang cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để kiến thiết xã hội chủ nghĩa (là bước đầu của cộng sản chủ nghĩa).

d) Sự liên hợp đệ huynh phải lấy nguyên tắc chân thật, tự do và bình đẳng cách mạng mà làm căn bản, nghĩa là mọi dân tộc có quyền tự do vào hay ra Liên bang Cộng hoà Xô-viết, chớ các dân tộc mạnh không được dùng võ lực ép các dân tộc yếu vào, ra. Các dân tộc vào liên bang được hưởng quyền lợi và chịu trách nhiệm như nhau. Mỗi dân tộc trong liên bang lại có quyền tự trị, nghĩa là được giải quyết lấy vấn đề địa phương chỉ quan hệ đến dân tộc mình, được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hóa của mình, được lấy rành người trong dân tộc mà quản lý lấy các cơ quan chính trị và kinh tế”1.

Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3-1935) khẳng định lực lượng cách mạng của các dân tộc thiểu số rất to lớn lớn. “Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, bộ phận của cuộc thế giới cách mạng”. Việc xem thường công tác trong các dân tộc thiểu số “là một lầm lỗi chính trị rất to lớn”, làm cho Mặt trận phản đế yếu đuối, ngăn trở cuộc cách mạng Đông Dương mau thành công. Đại hội bắt buộc các đảng bộ phải thực hiện những nhiệm vụ như sau:

“1. Các đảng bộ cần đem các bản chương trình của Đảng, của Quốc tế Cộng sản, của Tổng Công hội đỏ Đông Dương và Liên hợp Công hội thợ nông nghiệp và của Thanh niên Cộng sản Đoàn phổ biến và thi hành trong các dân tộc thiểu số... Nhưng các đảng bộ phải nghiên cứu tình hình các dân tộc

1. Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, tr. 72-73.

mà đề xướng thêm những khẩu hiệu mới cho thích hợp với tâm lý và sự nhu yếu thiết thực hàng ngày của họ.

2. Trung ương, các xứ uỷ và các tỉnh uỷ (trong những tỉnh có dân tộc thiểu số) phải cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu và chỉ đạo công tác vận động trong các dân tộc thiểu số. Phải nỗ lực tổ chức quần chúng lao động các dân tộc ấy vào Đảng, Công hội, Nông hội, Phản đế liên minh...

3. Các xứ uỷ Ai Lao, Cao Miên và các tỉnh có người dân tộc thiểu số phải dùng đủ phương pháp mà xuất bản báo chương, truyền đơn và các tài liệu khác bằng chữ dân tộc thiểu số.

4. Cần tổ chức và chỉ đạo công nông và các lớp lao động khác trong các dân tộc thiểu số bênh vực quyền lợi hằng ngày của họ. Kịch liệt chống sách lược áp bức và bóc lột của đế quốc, vua quan An Nam, Cao Miên, Ai Lao, các bọn lãnh tụ và bọn tù trưởng bộ lạc, các quan lang, lý hào trong các dân tộc thiểu số. Liên lạc vận động giải phóng trong các dân tộc thiểu số với những nhiệm vụ cách mạng phản đế và điền địa Đông Dương... Củng cố cảm tình và dây liên lạc của lao động An Nam với lao động dân tộc thiểu số. Luôn luôn gỡ mặt nạ bọn phản động trong các dân tộc thiểu số, phá ảnh hưởng của chúng, kéo quần chúng dưới quyền chỉ đạo của chúng sang phe cộng sản.

5. Kịch liệt khuyếch trương cuộc tranh đấu hai mặt trận về vấn đề dân tộc trong hàng ngũ cộng sản; chống địa phương chủ nghĩa trong các đồng chí người dân tộc thiểu số (nhất là người Thổ), miệt thị sự liên lạc vận động người Thổ với cuộc tranh đấu của các dân tộc khác ở xứ Đông Dương, ít thấy rõ tinh thần quốc tế; chống xu hướng vị chủng (chauvinisme de grande race) của các đồng chí An Nam ở Lào, Cao Miên, miệt thị người lao động dân tộc thiểu số, ít chịu để ý tổ chức họ vào hàng ngũ cách mạng, ít biết đem họ vào các cơ quan chỉ đạo, cần phổ biến và nâng cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác- Lênin trong dân chúng lao khổ người dân tộc thiểu số”1.

Trong giai đoạn Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939), Đảng hết sức nhấn mạng vai trò của các dân tộc thiểu số và chủ trương đoàn kết tất cả các dân tộc đấu tranh vì các quyền dân chủ rộng rãi. Bằng các báo chí công khai, bán công khai, Đảng đã tuyên truyền rộng rãi quan điểm, đường lối, chính sách trong quần chúng, trong đó có vấn đề dân tộc và quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc.

Trung ương Đảng khẳng định: Trong cuộc tranh đấu chống đế quốc, giai cấp vô sản Đông Dương còn phải tìm kiếm bạn đồng minh trong các dân tộc thiểu số sống trên lãnh thổ Đông Dương. Trung ương Đảng phân tích: “Thắng lợi đối với chủ nghĩa đế quốc chỉ có thể được đảm bảo bằng việc thành lập mặt trận thống nhất của mọi dân tộc Đông Dương. Đế quốc thống trị những nhóm người này bằng cách duy trì tất cả mọi tàn tích phong kiến và gia trưởng, hơn nữa, nó lại đẩy nhóm người này thống trị nhóm người kia, vì chính sách của chúng là: “chia để trị”. Một nền thống trị hơn bẩy mươi năm vẫn để các dân tộc này nằm trong bóng tối hoàn toàn, cấu trúc kinh tế và xã hội ở đây vẫn lạc hậu lỗi thời, lạc hậu như ở ngày đầu của cuộc xâm chiếm.

Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi quần chúng thiểu số ở Đông Dương, nhằm lật đổ chủ nghĩa đế quốc và tất cả bọn phong kiến, giải phóng hoàn toàn các dân tộc chậm tiến này và bảo đảm cho họ một sự phát triển kinh tế-xã hội và văn hoá, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng tiến kịp các dân cư tiên tiến nhất ở Đông Dương”1.

Đảng xác định khẩu hiệu đấu tranh của các dân tộc thiểu số là:

“a) Tranh đấu chống chính sách chia rẽ, hận thù giữa các chủng tộc do đế quốc Pháp thực hiện.

b) Tranh đấu chống đế quốc chiếm đoạt đất, rừng.

c) Chống lao động khổ sai (xây dựng đường sắt, đường sá, săn voi, nạp cống cho các công sứ, v.v...)

1 Đảng Cộng sản Đông Dương và những yêu sách chung cho các giai cấp và dân tộc ở Đông Dương, Văn kiện Đảng Toàn tập, t4, sđd, tr. 361.

d) Bỏ tất cả mọi bọn phong kiến... Thay thế họ bằng những cơ quan hoặc những người do những người lao động bầu ra.

e) Giúp đỡ có hiệu quả cho các dân tộc thiểu số trong cuộc tranh đấu của họ chống đế quốc, phong kiến.

f) Quyền của các dân tộc thiểu số tự họ quyết định cả việc hoàn toàn tách ra.

g) Thành lập các Xôviết nhân dân.

h) Tự do hợp thành một liên bang các cộng hoà tự trị Đông Dương.

i) Giúp đỡ để phát triển kinh tế và văn hóa.

j) Giáo dục bằng tiếng dân tộc.

k) Các cơ quan chính quyền cần được bầu cử và gồm những người sinh tại chỗ.

l) Bình đẳng tuyệt đối giữa các dân tộc Đông Dương”1.

Trong những năm 1936-1939, nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng như Trường Chinh, Nguyễn Văn Cừ, Võ Nguyên Giáp... đã viết các tác phẩm đề cập đến quyền tự quyết của các dân tộc, vấn đề dân cày, vấn đề vận động quần chúng, trong đó có vận động đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều trí thức là những người thuộc các dân tộc thiểu số đã tích cực tham gia vào cuộc vận động dân chủ. Nhiều cán bộ của Đảng đã đến các vùng dân tộc thiểu số vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia các phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ.

Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 9-1940, phát xít Nhật vào Đông Dương. Dưới hai tầng áp bức Nhật - Pháp, quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đều bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở nên vô cùng cấp thiết.

Tháng 5-1941, với tư cách đại diện cho Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc

1 Đảng Cộng sản Đông Dương và những yêu sách chung cho các giai cấp và dân tộc ở Đông

chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó (Cao Bằng).

Trên cơ sở phân tích thái độ chính trị của các giai cấp, tầng lớp Hội nghị nêu rõ ở nước ta mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc phát xít Pháp-Nhật. Hội nghị chỉ rõ: "Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương…". Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật "không phải riêng của của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương", "cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng""1. Hội nghị chủ trương: "Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng trước hết là phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp-Nhật…

Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"1. Vì vậy Hội nghị tiếp tục đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu "đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày", thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức.

Căn cứ vào hoàn cảnh mới của thế giới và Đông Dương, Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, cốt làm sao để thức tỉnh tinh thần dân tộc ở các nước Đông Dương. Trên tinh

1Văn kiện Đảng Toàn tập, t7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 118 và 119.

1 Văn kiện Đảng Toàn tập, t7, sđd, tr. 112 và 113.

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 66 - 98)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w