Quản lý phát triển bền vững - bảo vệ môi trường

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 123 - 127)

Chương 2 QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH

3.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ DÂN TỘC

3.2.2. Quản lý phát triển bền vững - bảo vệ môi trường

Tăng cường tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức cho mọi người về ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ môi trường và tài nguyên vùng dân tộc và miền núi.

Thực hiện các chương trình bảo vệ và phát triển rừng, tăng độ che phủ rừng, bảo vệ các nguồn nước sông suối, chống xói mòn đất; quy hoạch và

quản lý chặt chẽ việc phát triển sản xuất công nghiệp, việc khai thác tài nguyên khoáng sản, các công trình thủy lợi ở vùng dân tộc và miền núi. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhưng phải đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái và chống ô nhiễm nguồn nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên - Môi trường hướng dẫn các địa phương thực hiện).

Hoàn thiện chính sách giao đất, giao khoán rừng.

Thực hiện hiệu quả các dự án: Bảo vệ môi trường sinh thái ở vùng dân tộc miền núi, các vườn quốc gia, khu vực bảo tồn thiên nhiên. Đa dạng hóa việc giao rừng, gắn kết hợp lý lợi ích của Nhà nước - cộng đồng (làng xã) - gia đình - doanh nghiệp.

Xây dựng và mở rộng các mô hình phát triển kinh tế rừng với bảo vệ và phát triển vốn rừng. Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân đấu tranh phòng chống đốt phá rừng; Kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư ở vùng dân tộc và miền núi.

Để phát triển bền vững vùng DTTS&MN trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp chủ yếu như sau:

- Nhóm giải pháp về thể chế hóa

+ Xây dựng chính sách chia sẻ lợi ích hợp lý: cần chia sẻ, hài hòa lợi ích về tài nguyên, đất đai, lợi nhuận giữa Nhà nước, tập đoàn kinh tế, các tổ chức kinh tế - xã hội và người dân miền núi. Đối với công tác di dân để xây dựng các công trình thủy điện, công nghiệp, đô thị, v.v... phải lấy ý kiến, căn cứ vào nguyện vọng của dân, bố trí nơi ở mới ít nhất phải bằng hoặc hơn nơi ở cũ.

+ Xây dựng các chính sách phát triển bền vững, cần phải có thông tin khoa học, chính xác. Thời gian tới cần xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, tổ chức thu thập thông tin, phân tích đánh giá thực trạng phát triển bền vững các địa phương, khu vực liên quan.

+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải thể hiện được tính bền vững: tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội và

bảo vệ môi trường sinh thái, với những chương trình hành động, dự án cụ thể.

Trong kế hoạch hàng năm, phải có các chỉ tiêu cụ thể về phát triển bền vững, bố trí nguồn lực đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

Các địa phương cần có quy định bắt buộc áp dụng quy trình đánh giá tác động môi trường đối với tất cả các dự án ngay từ khi thiết kế, quy hoạch và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành và lãnh thổ.

- Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức, năng lực phát triển bền vững cho cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền thường xuyên về chủ trương, chính sách phát triển bền vững trên các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo và các ấn phẩm văn hóa. Đồng thời đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm theo các chủ đề nhân các ngày kỷ niệm môi trường thế giới, tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường...

Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, đào tạo lại và bổ sung kiến thức về phát triển bền vững cho cán bộ công chức các cấp, với các chương trình bồi dưỡng kiến thức mới, cập nhật. Cần đa dạng hóa các loại hình đào tạo, phương thức đào tạo cho phù hợp với các loại đối tượng, loại trình độ, đặc điểm đội ngũ cán bộ vùng DTTS&MN.

Tổ chức các đợt học tập, tham quan thực tế, trao đổi kinh nghiệm về các mô hình phát triển bền vững trong và ngoài nước.

- Nhóm giải pháp về khoa học và công nghệ

+ Tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào hoạt động bảo vệ môi trường. Sớm đưa các công nghệ mới về xử lý ô nhiễm nước, rác thải trong công nghiệp, đô thị, bệnh viện,... vào vùng DTTS&MN; các kỹ thuật, công nghệ cải tạo đất, giữ ẩm cho đất phục vụ công tác lâu dài, áp dụng công nghệ thông tin địa lý toàn cầu (GIS) trong quản lý đất đai, rừng, tài nguyên và dự báo diễn biến môi trường sinh thái.

+ Để phát triển bền vững vùng DTTS&MN cần ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ hiện đại thu thập thông tin, dự báo sớm để phòng tránh

các sự cố môi trường như: động đất, nứt đất, trượt lở, lũ quét, hạn hán, mưa đá, sương muối, v.v...

+ Tăng cường hợp tác quốc tế, huy động các nguồn vốn cho phát triển bền vững. Cần có chính sách, cơ chế cụ thể rõ ràng trong việc ưu tiên nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ODA, FDI…) cho phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong thời gian tới cần tăng cường các hoạt động hợp tác song phương, đa phương với các nước trong khu vực về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững vùng DTTS&MN; đẩy mạnh việc phối hợp thực hiện các hiệp ước, hiệp định, các chương trình dự án mang tính liên quốc gia, khu vực; trong đó trọng điểm là Trung Quốc, Lào, Campuchia. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế, các nước trong nghiên cứu, điều tra, thu thập thông tin chỉ số về phát triển bền vững và tổ chức thực hiện các dự án phát triển bền vững bảo vệ môi trường ở vùng DTTS&MN Việt Nam.

+ Tiếp tục tham gia và thực hiện tốt các công ước quốc tế, nghị định thư, hiệp ước, hiệp định về bảo vệ môi trường, thiên nhiên, sinh thái liên quan đến vùng DTTS&MN.

Cần phải làm tốt công tác huy động vốn đầu tư đi đôi với việc quản lý, sử dụng có hiệu quả tránh lãng phí, thất thoát. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp lên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN. Các tỉnh cần mời gọi, giới thiệu cơ hội đầu tư, công khai chính sách ưu đãi, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư bỏ vốn làm ăn lâu dài.

Tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số xây dựng phong trào tiết kiện trong tiêu dùng, cưới xin, ma chay, lễ tết để tích lũy, dành vốn đầu tư cho sản xuất, tạo ra thu nhập ngày càng cao.

+ Tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ và quốc tế tham gia hoạt động, thông tin, trao đổi kinh nghiệm phát triển bền vững vùng DTTS&MN.

Cần tạo ra cơ chế nhằm nâng cao vai trò chủ động của người dân trong việc tham gia các chính sách, hoạt động phát triển bền vững.

Tăng cường các hoạt động giám sát của người dân đối với những tác động ảnh hưởng tới môi trường của các dự án sản xuất, dịch vụ trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Nâng cao năng lực, kiến thức hiểu biết về phát triển bền vững cho đồng bào các dân tộc để họ có thể tham gia thực sự vào việc thực hiện và giám sát quá trình phát triển bền vững ở địa phương.

Một phần của tài liệu Giáo trình Tôn giáo và dân tộc (Trang 123 - 127)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(255 trang)
w