CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
2.3. Phân tích môi trường ngành
2.3.1. Phân tích đối thủ cạnh tranh hiện tại
Dịch vụ điện thoại di động đƣợc cung cấp tại Việt Nam vào năm 1994 với khoảng 3.000 thuê bao. Đến cuối năm 2002 số thuê bao di động của Việt Nam đạt gần 1,8 triệu thuê bao với 2 nhà cung cấp chủ yếu là MobiFone và VinaPhone. Đến hết năm 2007, thị trường di động của Việt Nam đã có 6 nhà cung cấp dịch vụ trong đó có 3 mạng sử dụng công nghệ GSM và 3 mạng sử dụng công nghệ CDMA. Cuối năm 2007, tổng thuê bao di động hoạt động bình thường của các mạng gấp gần 30 lần số thuê bao có ở cuối năm 2002 và đạt tỷ lệ thâm nhập thị trường vào khoảng 35%. Tốc độ phát triển thuê bao di động từ năm 2002 đến năm 2007 trung bình năm sau cao gấp 2 lần năm trước. Từ năm 2009, tốc độ phát triển thuê bao di động sẽ giảm dần, đến năm 2010 thị trường di động Việt Nam sẽ bão hòa và tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại, trung bình khoảng 4%/năm.
Tỷ lệ thuê bao sử dụng công nghệ GSM chiếm khoảng 96% trong tổng thuê bao hiện có cuối năm 2007, các mạng sử dụng công nghệ GSM là Viettel, MobiFone, VinaPhone hiện giữ trong tay những thị phần rất lớn; Tỷ lệ khách hàng sử dụng di động công nghệ CDMA chỉ chiếm khoảng 4% chia đều cho các mạng còn lại là S-Fone, VietnamMobile và Beeline Mobile.
59
Học viên: Trần Vĩnh Nam Khóa 2010B
Bảng 2.4: Doanh thu và thuê bao của các nhà mạng năm 2011
Đơn vị: tỷ đồng
Nhà mạng Doanh thu Tỷ lệ (%) Số thuê bao Tỷ lệ (%)
Viettel 117.000 43,62 57.794.356 40,45
Vina 103.864 38,73 42.963.573 30,07
Mobi 38.000 14,17 25.575.256 17,9
Vietnam Mobile 9.000 3,35 11.487.433 8,04
Beeline 337 0,12 4.600.688 3,22
Khác 33,7 0,01 457.211 0,32
Tổng 268.201 100 142.878.529 100
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ thị phần theo thuê bao điện thoại di động năm 2011-2012
(Nguồn: http://biz.cafef.vn)
- MobiFone (GSM)
Là nhà cung cấp mạng với công nghệ GSM, thương hiệu 090. Đây là nhà cung cấp đầu tiên tham gia vào thị trường di động của Việt Nam. VMS là một công ty thuộc VNPT, bắt đầu hoạt động từ năm 1994. Năm 1995, Chính phủ phê duyệt hợp đồng BCC của VMS với nhà điều hành viễn thông Comvik của Thụy Điển để xây
60
Học viên: Trần Vĩnh Nam Khóa 2010B
dựng mạng điện thoại di động toàn quốc với tổng số vốn đầu tƣ khoảng 340 triệu USD trong vòng 10 năm (đầu tư thiết bị phía nước ngoài là khoảng 110 triệu USD). Đến hết năm 2002, MobiFone có khoảng 692.792 thuê bao, chiếm khoảng 40% thị phần di động của cả nước. Trong kinh doanh, MobiFone đã xây dựng hình ảnh thương hiệu khá thành công nhờ có hệ thống CSKH và kênh phân phối khá hiệu quả.
Tính đến hết năm 2007, thị phần của MobiFone vào khoảng 32%, đứng thứ 2 trên thị trường di động của Việt Nam. Theo Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2010, công ty Thông tin Di động MobiFone đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch do Tập đoàn BCVT giao trong năm qua với mức tăng trường 30% so với năm 2009. Mobifone hoàn thành 119% kế hoạch với số lƣợng thuê bao thực phát triển là 5,95 triệu. Hoạt động kinh doanh năm 2010 mang về cho công ty mức doanh thu gần 36.034 tỷ đồng, tăng 31,5% so với năm 2009. Năm 2010, Mobifone cũng đạt được một số giải thưởng đáng chú ý trong ngành CNTT và Viễn thông nhƣ: Mạng di động đƣợc ƣa chuộng nhất 2010, Mạng di động chăm sóc khách hàng tốt nhất (tại Vietnam ICT Awards), mạng di động có chất lượng dịch vụ tốt nhất…Năm 2011, Giải thưởng “Mạng điện thoại di động đƣợc ƣa chuộng nhất” dành cho sản phẩm CNTT - TT do tạp chí Thế giới Vi tính tổ chức ngày 12/07/2011.
Những ưu thế của MobiFone :
+ Là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên cung cấp dịch vụ thông tin di động trên 10 năm tại Việt Nam, hiện MobiFone đã thu hút đƣợc cho mình những lớp khách hàng có thu nhập cao nhất.
+ Thị trường lớn nhất của MobiFone là tại Miền Nam, tại đây MobiFone luôn dẫn đầu về thương hiệu, hình ảnh và doanh số bán hàng.
+ Đã có trên 10 năm kinh nghiệm kinh doanh dịch vụ di động, có đội ngũ cán bộ công nhân viên đông đảo và có trình độ cao.
+ MobiFone cũng có chỉ số APRU (doanh thu/thuê bao) cao nhất thị trường.
Điểm yếu của MobiFone là việc hạn chế của hợp tác kinh doanh trên cơ sở BCC trong việc ra các quyết định và chi phối của Tổng công ty Viễn thông Việt Nam.
- VinaPhone(GPC):
Chính thức cung cấp dịch vụ vào khoảng tháng 06/2006, là mạng di động của công ty Dịch vụ Viễn thông GPC do VNPT quản lý. Do có lợi thế trong việc sử dụng
61
Học viên: Trần Vĩnh Nam Khóa 2010B
cơ sở hạ tầng sẵn có của VNPT nên chỉ sau 1 năm, GPC đã phủ sóng toàn quốc, tính đến hết năm 2002, số thuê bao di động của GPC đạt khoảng 1,1 triệu thuê bao, chiếm 60% thị phần di động. Đến hết năm 2007, thị phần của VinaPhone vào khoảng 28%, đứng thứ 3 trên thị trường di động của Việt Nam. Năm 2009, doanh thu toàn mạng của VinaPhone đạt gần 21.000 tỷ đồng, phát triển thêm hơn 10 triệu thuê bao mới.
Những ưu thế của Vinaphone:
+ Điểm mạnh nhất của mạng 091 là có sự hậu thuẫn về đầu tƣ, nguồn lực của VNPT- Tổng công ty Bưu chính Viễn thông lớn nhất Việt Nam hiện nay.
+ Khách hàng của Vinaphone thường là các tổ chức cá nhân có thu nhập cao.
Mặc dù mức cước của Vinaphone khá cao so với các đối thủ nhưng khách hàng vẫn lựa chọn Vinaphone vì họ muốn được coi mình là người sành điệu, đẳng cấp.
+ Chuyển vùng quốc tế lớn nhất, hiện nay Vinaphone đã hợp tác với trên 200 Công ty viễn thông trên khắp thế giới, cho phép chuyển vùng quốc tế hơn 100 quốc gia mà vẫn sử dụng sim của Vinaphone.
Điểm yếu: Hệ thống quản lý cồng kềnh khó triển khai thực hiện một quyết định kinh doanh đồng thời.
Qua bảng trên có thể thấy rằng trong năm 2011, Viettel vẫn là đơn vị viễn thông chiếm vị trí thứ nhất cả về doanh thu lẫn số thuê bao, tiếp đến là Vinaphone và Mobiphone ở vị trí thứ 3. Có thể thấy rằng thị trường viễn thông Việt nam hiện nay đã trở thành cuộc đua của 2 ông lớn đó là Viettel và Vinaphone. Viettel đang dẫn đầu với doanh thu là 117.000 nghìn tỷ chiếm 43,62% doanh thu toàn ngành và Vinaphone đang theo sát với tỷ lệ là 38,73%. Về số thuê bao có thể nói Viettel đã vươn lên cách Vinaphone tương đối xa với 61.051.298 thuê bao chiếm 40% tổng số thuê bao đang sử dụng. Trong khi đó Vinaphone chỉ là 45.384.740 thuê bao.
Theo nghiên cứu của báo Bưu điện Việt Nam được công bố năm 2011 cho biết mức độ an toàn thông tin và bảo mật, uy tín đối với khách hàng Viettel dẫn đầu so với Vinaphone và Mobifone. Nhƣ vậy là Viettel đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn nhất tại Việt Nam hiện nay. Nhƣng câu hỏi đặt ra là: Liệu Viettel đã phải là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất chƣa? Với lƣợng thuê bao lớn nhƣ vậy thì dịch vụ chăm sóc khách hàng và cơ sở hạ tầng của nhà mạng này liệu đã đáp ứng đƣợc
62
Học viên: Trần Vĩnh Nam Khóa 2010B
nhu cầu của sử dụng dịch vụ của khách hàng chƣa? Chất lƣợng dịch vụ và những dịch vụ giá trị gia tăng đã thực sự xứng đáng với vị trí dẫn đầu? Những thiếu sót cần phải khắc phục? Những dịch vụ cần phải thay đổi để có thể vươn lên ổn định ở vị trí dẫn đầu?...
Cũng theo nghiên cư ưu điê n Viê t Nam đư m i t ười dùng dịch vụ di động đánh giá về chất lư ng sóng, tốc độ đường truyền, chất lư ng di ch vu cả hình thức thuê bao trả trước và trả sau đều đánh giá chất lư ng dịch vụ của mạng di động MobiFone cao nhất. Như vâ i tt m đ i ỉ tiêu như t ư ng di ch vu i t t a m vơ i Mobifone.