CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.4. Các thông tin cần thiết phục vụ cho hoạch định chiến lược
Phục vụ cho hoạch định chiến lược, nguồn thông tin rất quan trọng. Thông thường có các nguồn thông tin thứ cấp nội bộ, thứ cấp bên ngoài, sơ cấp nội bộ và sơ cấp bên ngoài.
Dữ liệu thông tin thứ cấp nội bộ rất phong phú và có thể xử lý nhằm cung cấp thông tin tốt phục vụ cho việc soạn thảo quyết định (chứng từ thu tiền, biên lai bán hàng, báo cáo công nợ, báo cáo kế toán…).
Có rất nhiều thông tin thứ cấp bên ngoài, trong đó có nhiều thông tin có thể nhận được mà không mất tiền. Nguồn thông tin của Chính phủ cung cấp nhiều dữ liệu trong các tài liệu được công bố (Thống kê kinh doanh, …).
Nội dung của các thông tin gồm các vấn đề như thông tin về cạnh tranh, thông tin về nguồn nhân công, thông tin về sản xuất, thông tin về nghiên cứu phát triển, thông tin về tài chính, thông tin về Marketing và thông tin về nề nếp tổ chức.
1.4.1. Đặc trưng về dịch vụ viễn thông:
Dịch vụ viễn thông có những đặc trưng cơ bản sau:
- Dịch vụ viễn thông có tính phi vật chất, không là vật thể chế tạo mới mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức, biểu hiện là thông tin phải được
39
thực hiện từ người gửi đến người nhận một cách nguyên v n. Những tin tức này nhà cung cấp không thể tự sáng tạo ra mà chỉ thực hiện chức năng truyền đưa về mặt không gian từ nơi này đến nơi khác. Mọi sự biến đổi về hình thức hay nội dung thông tin đều làm giảm hoặc mất giá trị của dịch vụ.
- Quá trình sản xuất ra dịch vụ gắn liền với quá trình tiêu thụ: Trong nhiều trường hợp quá trình tiêu thụ trùng với quá trình sản xuất. Trong quá trình truyền đưa tin tức, yêu cầu về chất lượng dịch vụ thường rất cao bởi đây là loại dịch vụ có giá trị tiêu dùng ngay một lần.
- Quá trình sản xuất viễn thông mang tính dây truyền: Để thực hiện việc truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận thường có từ hai hay nhiều đơn vị tham gia, mỗi đơn vị chỉ thực hiện một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức đó. Nhu cầu về truyền đưa tin tức của khách hàng rất đa dạng, nó xuất hiện không đều về không gian, thời gian.
- Do đặc điểm không hiện hữu (vô hình) của dịch vụ viễn thông nên rất khó quản lý chất lượng đồng bộ, đồng thời khách hàng cũng rất khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ. Để đánh giá chất lượng dịch vụ, khách hàng thường căn cứ vào nhiều tiêu chuẩn hữu hình, như:
+ Bằng chứng hữu hình của dịch vụ: Đó là thương hiệu dịch vụ, sự hiện đại của trang thiết bị, công nghệ khai thác, sự khang trang của các điểm giao dịch với khách hàng, sự lành nghề của đội ngũ nhân viên…
+ Độ tin cậy của dịch vụ: Đối với điện thoại là tỷ lệ cuộc gọi thành công cao, ít bị nghẽn mạch. Với dịch vụ Internet là truy cập, kết nối mạng nhanh…
+ Chất lượng của hoạt động chăm sóc khách hàng: Thái độ thực sự ân cần của nhân viên giao dịch trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Kỹ năng giao tiếp, mức độ lịch thiệp của nhân viên giao dịch.
+ Mức độ tin cậy của thông tin được cung cấp về dịch vụ.
Những đặc trưng trên là các yếu tố rất quan trọng khi doanh nghiệp xây dựng và thực thi chiến lược trong cạnh tranh để thu hút khách hàng vì nó liên quan đến
40
mức độ hài lòng và quyết định lựa chọn dịch vụ thoả mãn nhu cầu của chính khách hàng.
1.4.2. Kinh doanh dịch vụ viễn thông và vấn đề XD chiến lược kinh doanh
Viễn thông là một trong những ngành dịch vụ lớn nhất và phát triển nhanh nhất, đây là ngành đặc biệt quan trọng đối với mọi nhà xuất khẩu dịch vụ có liên quan đến ngành này trong quá trình sản xuất, cung cấp các loại hình dịch vụ của họ. Đây là một ngành dịch vụ lợi nhuận cao, một thị trường đầy tiềm năng mà trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp nhằm tới.
Trong những năm gần đây, thị trường viễn thông Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, các công nghệ tiên tiến đều được đưa vào ứng dụng, sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng…
Để tồn tại và phát triển bền vững, các doanh nghiệp viễn thông khi xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình phải tuân thủ tính khoa học đó là những quy luật về kinh tế, kinh doanh, kỹ thuật và xã hội; tính nghệ thuật đó là tính đa dạng, phong phú, tính muôn hình muôn vẻ của các sự vật, hiện tượng trong kinh tế, kinh doanh và quản trị.
- Hoạt động của doanh nghiệp viễn thông đều chịu sự tác động của các yếu tố môi trường, các doanh nghiệp viễn thông không thể thay đổi hoặc lựa chọn các yếu tố phụ thuộc môi trường bên ngoài.
- Sự vận dụng các quy luật trong hoạt động kinh doanh viễn thông, đó là những quy luật kinh tế, như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu và giá cả..; các quy luật khách hàng;
- Sự tuân thủ các nguyên tắc quản trị kinh doanh, như tuân thủ luật pháp viễn thông, phải xuất phát từ khách hàng, hiệu quả và hiện thực, tính chuyên môn hoá, kết hợp hài hoà các lợi ích, tận dụng được thời cơ và môi trường kinh doanh
41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã nêu những khái niệm cơ bản về chiến lược kinh doanh, ý nghĩa của việc hoạch định chiến lược, quy trình hoạch định, nội dung phân tích chiến lược kinh doanh, các công cụ phân tích sử dụng trong quá trình hoạch định chiến lược và các phương án chiến lược.
Để có định hướng kinh doanh, xác định được tương lai việc phân tích để xác định chiến lược kinh doanh dài hạn là rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Hoạch định chiến lược kinh doanh, cần phải phân tích môi trường vĩ mô, môi trường ngành và môi trường nội bộ doanh nghiệp. Trên cơ sở đó lựa chọn các chiến lược có thể sử dụng và dùng các công cụ phân tích để lựa chọn chiến lược hấp dẫn nhất để thực hiện.
Quá trình thực hiện chiến lược được vạch rõ mục tiêu cần đạt được, chuẩn bị về mọi mặt như tài chính, nhân sự…phục vụ cho chiến lược. Nhiệm vụ của từng bộ phận trong doanh nghiệp được phân công cụ thể với quan điểm để phát huy thế mạnh và khắc phục khó khăn, tập trung nguồn lực, đầu tư theo quy hoạch thống nhất.
Nhằm hoạch định chiến lược cho Chi nhánh Viettel Hòa Bình đến năm 2018 có tính thực tiễn, ta cùng tìm hiểu về tình hình hoạt động cũng như thực trạng kinh doanh của đơn vị trong phần tiếp theo của bài luận văn.
42 CHƯƠNG 2