Các bi ện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước

Một phần của tài liệu kl le thanh tuyen 710513b (Trang 57 - 64)

Như trình bày, nước thải từ bãi chôn lấp rác (chủ yếu gồm nước rác, nước mưa chảy tràn, nước ngấm và một phần nhỏ nước thải sinh hoạt) mang theo nhiều chất ô nhiễm với hàm lượng cao và có thể gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là ngấm xuống đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm hay chảy tràn gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Các giải pháp khắc phục được đề xuất như sau:

- Xây dựng hệ thốngthoát nước mặt

- Xây dựng nền và vách bãi đảm bảo khả năng chống thấm - Xây dựng hệ thống thu gom nước rỉ rác

- Kiểm soát sự ô nhiễm mạch nước ngầm tại bãi

6.2.1. Phương án thoát nước mặt, giảm tác động của nước mưa chảy tràn

- Để đảm bảo tốt việc tách nước mưa, ngăn không thấm vào rác làm quá tải hệ thống xử lý nước thải cũng như làm tăng tải trọng tác dụng lên nền đất gây mất ổn định cho công trình, quá trình chôn lấp cần phải đảm bảo:

- Phủ bạt kín tại những vị trí chưa có chôn lấp, nước mưa chỉ có thể thấm vào diện tích mặt bằng sử dụng chôn lấp rác trong ngày: ứng công suất rác chôn lấp là 3000Tấn/ngày, đổ từng lớp dày 2m với dung trọng rác γ = 9 T/m3 thì diện tích mặt bằng cần đổ trong ngày là: 5.000 m2 (với hệ số mở rộng phạm vi đổ 3). Vậy diện tích cần phủ bạt còn lại là: 92.500m2

- Ngoài việc phủ bạt các lớp rác chôn lấp cũng như lớp phủ sẽ được tạo dốc 1%

từ giữa bãi rác ra ngoài biên theo phương ngắn nhằm đẩy mạnh quá trình thoát nước mưa ra các rãnh thu nước dọc theo chu vi của bãi chôn lấp. Để đảm bảo chức năng trên, lớp phủ trung gian là quan trọng nhất, lớp phủ phải được đầm chặt với hệ số dầm chặt k=0.8 và được làm từ vật liệu có hệ số thấm thấp khoảng 10- 5cm/s như các loại

ật liệu đất phún, sỏi đỏ.

. Lưu ý: Bạt phủ phải đảm bảo kín nước nhất là tại các vị trí kết nối. Tuy nhiên, phương án này tương đối khó khăn khi thực hiện vì cản trở đến quá trình vận chuyển của các phương tiện vận tải và các biện pháp giằng bạt phủ trong những ngày có gió lớn. Phương án được đề xuất là chia toàn bộ bãi chôn lấp thành 2 ô chôn lấp như thiết kế, trong khi tiến hành đổ rác ở ô số 3 sẽ phủ bạt toàn bộ ô số 2 và khi chuyển sang sử dụng ô số 2 phải tiến hành phủ lớp đất trung gian lên ô số 1 và phủ bạt trong những ngày mưa nhằm giảm lượng nước mưa đi vào ô chôn lấp.

* Cấu tạo lớp phủ trung gian và lớp phủ đỉnh

- Lớp phủ trung gian: lớp phủ trung gian có chiều đầy h= 0.2m, là loại đất phún có hàm lượng sét cao>30%, có độ ẩm trung bình với hệ số thấm <1x10 -4

- Lớp phủ đỉnh: qua tham khảo thực tế quá trình vận hành của các bãi chôn lấp, lớp phủ đỉnh được chọn như sau :

cm/s, được dầm nén với hệ số k=0.8 theo mái dốc i=1% hướng ra ngoài biện bải chôn lấp;

Hình 6.4. Cấu tạo lớp phủ đỉnh bãi chôn lấp - Trong đó :

+ Lớp VLDPE dày 1.5mm có nhiệm vụ chống thấm, ngăn nước từ ngoài xâm nhập vào rác, giữ lớp cát tiêu không bị rửa trôi.

+ Lớp cát hạt trung có nhiệm vụ thu nước từ lớp đất phủ đỉnh đưa vào hệ thống ống thu nước, tránh xoáy lở trượt trồi đất phủ đỉnhtrong mùa mưa.

+ Lớp đất phủ đỉnh h=0.8m tạo môi trường sống cho lớp cỏ voi trồng trện mặt bãi chôn lấp.

+ Lớp sét h=0.3m phía dưới lớp VLDPE gia cường cho khả năng chống thấm, ngằn không cho nước bẩn, khí gaz sinh ra từ bãi chôn lấp xâm nhập môi trường xung quanh.

* Phương án thoát nước mưa

- Nước mưa được tách ra không cho thấm vào rác bằng lớp bạt phủ, được đổ vào hệ thống rãnh thoát nước bao xung quanh ô chôn lấp và được đổ ra kênh 15, 16 thông qua hệ thống cống thoát nước mưa þ1200 và cửa xả.

- Có 3 phương án thoát nước mưa :

 Phương án 1: thoát toàn bộ nước mưa ra kênh 16 thông qua 2 hệ thống cống þ1200 và cửa xả.

 Phương án 2: thoát toàn bộ nước mưa ra kênh 15 thông qua 2 hệ thống cống þ1200 và cửa xả.

 Phương án 3: hướng thoát nước theo cả hai phư ơng, một phưong thoát ra kênh 15 và một thoát ra kênh 16 thông qua 4 hệ thống cống þ1200 và cửa xả.

- Trong 3 phương án trên, phương án 1 có chiều dài dẫn nước ra kênh nhỏ nhất.

Tuy nhiên, nếu sử dụng phương án này thì không có khả năng xử lý nước khi nươc mưa bị xâm thực bởi nước rác vì nhà máy xử lý nước thải cho bãi chôn lấp nằm về hương kênh 15. Mặt khác, bề rộng bãi lớn nên chiều sâu rãnh dẫn nước sẽ rất lớn gây bất tiện cho quá trình khai thác, sử dụng. Trong khi đó, phương án 2 có ưu điểm về mặt môi trường so với phương án 1 nghĩa là nước có thể được xử lý trượt khi đổ ra kênh nếu có ô nhiễm, tuy vậy nó vẫn mang yếu điểm như phương án 1 đó chiều sâu cũng như bề rộng rãnh thu nước sẽ rất lớn. Phương án thứ 3 có chiều sâu rãnh dẫn nước nhỏ nhất, có ưu điểm tốt nhất trong quá trình vận hành và khi đảm bảo các điều kiện an toàn cho nguồn nước mặt thì phương án 3 là phương án tối ưu nhất. Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình vận hành cần tạo lớp phủ đỉnh cách nươc tốt, che chắn bạt phủ cẩn thận ngăn không cho nước rác lẫn vào nước mưa.

* Cải tạo kênh nội đồng

Dọc theo cạnh 650m của bãi chôn lấp 3 đoạn từ cọc T2 đến cọc T4 là một con kênh nội đồng rộng 2,00m, sâu khoảng 1m có nhiệm vụ dẫn và tiêu nước cho khu vực rừng tràm, các rẫy trồng thơm, kênh này hai đầu ăn thông với kênh số 15. Trong quá trình xây dựng bãi chôn lấp, đê phản áp sẽ xâm phạm đến con kênh trên làm tắc dòng chảy của kênh nên ngay trong giai đọan đầu của quá trình thi công kênh nội đồng này sẽ được cải tạo theo hướng thoát nước ra kênh 16. Tổng chiều dài nạo vét tạo dòng chảy dài khỏang 300m với bề rộng kênh b=2m, chiều sâu trung bình là 1,25m.

6.2.2. Phương án thiết kế chống thấm nền và vách bãi chôn lấp

*

ớp kết cấu đáy phải đảm bảo 3 nhiệm vụ như sau : Chống thấm đáy ô chôn lấp

+ Khả năng chống thấm tốt, đảm bảo hệ số thấm <10-7 + Tạo tầng đệm thu nước có hệ số thấm tối thiểu bằng 1x10

cm/s;

-2

+ Gia cố nền cho bãi chôn lấp đảm bảo đáy ô chôn lấp phải có sức chịu tải

> 1kg/cm

cm/s;

2

Với điều kiện địa chất mặt nền hiện hữu là lớp bùn sét khả năng chịu tải kém có hệ số thấm từ 3-5x10

.

-6cm/s, nền cần được cải tạo để đảm bảo các chức năng đã nêu ở trên của kết cấu đáy bãi chôn lấp. Cấu tạo cụ thể của lớp đáy được chọn như sau :

Hình 6.5. Cấu tạo lớp đáy bãi chôn lấp * Trong đó:

+ Lớp HDPE dầy 2mm và lớp sét GCL bị kẹp giữa 2 lớp vải địa giữ vai trò là lớp chống thấm cho đáy kết cấu.

+ Lớp đá 1x2 dầy 20cm và lớp đá 4x6 dầy 25cm giữa vai trò là tầng thu nước chủ yếu cho hệ thống thu nước rỉ rác.

+ Hai lớp cát đệm (lớp tên dày 25cm và lớp dưới dày 80 cm) giữ vai trò tạo mặt nền phẳng, dốc theo đúng ý đồ thiết kế, tạo ra tầng đệm đảm bảo cho lớp cách nước HDPE và lớp sét GCL không bị thủng trong quá trình vận hành,

phân phối ứng suất tác động vào đất. Ngoài ra, lớp cát dày 80 cm còn có tác dụng là tầng thấm ngang của nước lỗ rỗng trong đất thoát ra khi gia tải.

+ Bốn lớp vải địa : hai lớp vải kẹp lớp cách nước HDPE và lớp sét GCL có nhiệm vụ bảo vệ lớp cách nước chống lại sự chọc thủng của các vật nhọn lẫn trong 2 lớp cát đệm, đảm bảo chịu lực không gây dứt gãy lớp chống thấm lớp chống thấm khi có sự dịch chuyển đột của tấng đất khi hình thành cung trượt.

Hai lớp vải còn lại giữ vai trò ngăn cách không cho các lớp vật liệu trộn lẫn vào nhau (tránh đá chạy vào cát, cát chìm vào bùn).

*

Vách ô chôn lấp được chống thấm bằng lớp chống thấm bao gồm màng chống thấm HPDE dầy 2mm, và lớp đất bảo vệ 15 cm. Vách của các ô chứa rác được xử lý chống thấm theo hai phương án sau:

Chống thấm vách ô chôn lấp

 Phương án A: Tráng lớp bê tông dầy trung bình 8 cm;

 phương án B: Dùng tấm phủ CETO dầy 15 mm.

Phương án B so với phương án A thì chi phí cao hơn, nhưng dễ thi công và hiệu quả chống thấm có thể an toàn hơn.

6.2.3. Phương án thu gom nước rỉ rác

Có nhiều phương án thu gom nước rỉ rác được đề xuất, nhưng phương án hợp lý nhất là Thu nước tại tâm bãi chôn lấp bơm đẩy về trạm xử lý.

- Hệ thống thu gom nước thải bao gồm các đường ống đục lỗ đặt trong các tầng thu nước rác (lớp đá 4x6 nằm trong bọc vải địa). Các ống đục lỗ thu nước là ống HDPE D150, nước từ các ống D150 được dẫn về các giếng thu thông qua các ống D200 dốc hướng vào tâm bãi chôn lấp. Tại các vị trí giếng thu bố trí các máy bơm hút nước thải lên hệ thống thu trên mặt đất, từ đây nước thải sẽ được đưa về trạm xử lý trước khi đổ kênh rạch.

- Nhằm đảm bảo sự tối ưu trong quá trình thu nước thải khi xảy ra tình trạng lún lệch nền tại vị trí giữa bãi so với các vị trí biên do sự chênh lệch tải trọng tác dụng, hệ thống ống thu D150 được bố trí với mật độ khác nhau tại các vị trí trong bãi chôn lấp, tập trung chủ yếu vào vị trí giữa bãi. Đồng bộ với hệ thống ống thu, các ống giếng D500 được bố trí tương ứng tại giữa bãi chôn rác nhằm đảm bảo quá trình thu nước được diễn ra một cách tối ưu nhất trong suốt quá trìn

- Phương pháp trên tận dụng được sự mềm dẻo của hệ thống ống nhựa HDPE, tuy nhiên đây cũng chính là khuyết điểm của hệ thống khi các ống nhựa dễ bị tắt trong quá trình nén rác, vì vậy để đảm bảo quá trình thu nước được diễn ra liên tục không bị gián đoạn, 4 hệ thống thu nước đứng được liên thông với nhau thông qua ống þ200 khi xảy ra sự cố đối với một hệ thống thì nước trong khu vực đó có thể được bơm hút qua các ống thu bên cạnh. Trong quá trình vận hành chôn lấp, khi đắp thêm một lớp rác mới phải tiến hành nối ống, di dời các hệ thống ống dẫn lên cao, đây cũng chính là một trong những mặt bất tiện của phương án

HỆ ỐNG THU NƯỚC RÁC PHƯƠNG ÁN 1

Hình 6.6. Cấu tạo hệ thống thu nước rác

6.2.4. Phương án xử lý nước rỉ rác

Nước rỉ ráccó hàm lượng ô nhiễm rất cao và nguy hại đối với môi trường, việc xử lý đòi hỏi kỹ thuật cao và kinh phí lớn. Tuy nhiên, trong bản báo cáo này không đề cập sâu đến phần xử lý nước rỉ ấcc vì hạng mục công trình này đã được đề xuất trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường bãi chôn lấp số 3. Nước rỉ rác từ bãi chôn lấp số 3 sẽ được thu gom và đưa về xử lý tại hệ thống xử lý chung này trước khi thải ra môi trường. Sơ đồ khối hệ thống xử lý nước rác tại bãi chôn lấp được trình bày ở trang sau.

Theo quy trình xử lý này, nước rỉ rác sau khi xử lý sẽ đảm bảo tiêu chuẩn thải ra môi trường.

6 .2.5. Phương án xử lý nước thải sinh hoạt

Nước thải sinh hoạt phát sinh do đội ngũ công nhân vận hành tại khu vực dự án sẽ được xử lý theo phương pháp thông dụng là xây dựng các công trình tự hoại. Bể tự

hoại là công trình đồng thời thực hiện hai chức năng lắng cặn và phân huỷ cặn lắng.

Trong bể tự hoại, cặn lắng được giữ lại từ 6-8 tháng, nhờ có hoạt động của các vi sinh vật kỵ khí, các chất hữu cơ được phân huỷ, một phần tạo các chất khí và một phần tạo chất vô cơ. Chất thải được xử lý và nước được làm sạch trước khi đi vào hệ thống thu gom và hệ thống xử lý nước thải rỉ rác. Dung tích và thiết kế các bể tự hoại được áp dụng đúng theo quy chuẩn xây dựng.

5.2.6. Phương án giám sát chất lượng nước ngầm

Tại bãi chôn lấp sẽ được bố trí các giếng khoan sâu 20 m ở phía dưới hướng thoát nước chính của khu vực để giám sát chất lượng nước ngầm trong khu vực.

Hình V.7. Cấu tạo của một giếng quan trắc nước ngầm

GHI CHÚ :

1 : Nắp bảo vệ 6 : Ống lọc

2 : Bể xi măng 7 : Ống lắng

3 : Sét chèn ống 8 : Ống chống

4 : đất thấm kém 9 : Lớp lọc ngược

1

2 3

8

9

7 5

4

6

CHƯƠNG VII

Một phần của tài liệu kl le thanh tuyen 710513b (Trang 57 - 64)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(67 trang)