Qui trình v ận hành

Một phần của tài liệu kl le quang vu 710520b (Trang 67 - 71)

CHƯƠNG 4 TÍNH TÓAN THI ẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÍ NƯỚC THẢI

4.4 Qui trình v ận hành

)

Ở công trình xử lý cơ học thì thời gian đưa vào hoạt động tương đối ngắn. Trong thời gian đó, tiến hành diều chỉnh các bộ phận cơ khí, van khóa và các thiết bị đo lường, phân phối hoạt động.

Ở các công trình xử lý sinh học (bể Aerotank) thì gian đoạn đưa vào hoạt động tương đối dài, cần một khoảng thời gian đủ để vi sinh vật thích nghi và phát triển để đạt hiệu quả thiết kế.Do đó cần tuân thủ các qui định trong giai đọan sau:

4.4.1 Chuẩn bị bùn

Bùn sử dụng là loại bùn xốp có chứa nhiều vi sinh vật có khả năng oxy hóa và khoáng hóa các chất hữu cơ có trong nước thải. Tùy theo tính chất và điều kiện môi trường của nước thải mà sử dụng bùn hoạt tính cấy vào bể xử lý khác nhau. Bùn có thể nuôi cấy trong phòng thí nghiệm hoặc lấy từ ao, hồ, các công trình xử lý nước thải sinh họat khác .

Kiểm tra bùn

Chất lượng bùn : Bông bùn phải có kích thước đều nhau. Bùn tốt sẽ có màu nâu. Vận hành

Quá trình phân hủy hiếu khí và thời gian thích nghi của các vi sinh vật diễn ra trong bể Aerotank thường diễn ra rất nhanh, do đó thời gian khởi động bể rất ngắn. Các bước tiến hành như sau:

Kiểm tra hệ thống nén khí, các van cung cấp khí.

Cho bùn hoạt tính vào bể.

Trong bể Aerotank, quá trình phân hủy của vi sinh vật phụ thuộc vào các điều kiện sau:

pH của nước thải, nhiệt độ, các chất dinh dưỡng, nồng độ bùn và tính đồng nhất của nước thải. Do đó cần phải theo dõi các thông số pH, nhiệt độ, nồng độ COD, nồng độ MLSS, SVI, DO được kiểm tra hàng ngày, Chỉ tiêu BOD5

Cần có sự kết hợp quan sát các thông số vật lý như độ mùi, độ màu, độ đục, lớp bọt trong bể cũng như dòng chảy. Tần số quan sát là hàng ngày.

, nitơ, photpho.

Trong giai đoạn khởi động cần làm theo hướng dẫn của người có chuyên môn. Cần phải sửa chữa kịp thời khi gặp sự cố.

4.4.2 Vận hành hàng ngày

Đối với hoạt động bể Aerotank giai đoạn khởi động rất ngắn nên sự khác với giai đoạn hoạt động không nhiều. Giai đoạn hệ thống đã hoạt động có số lần phân tích ít hơn giai đoạn khởi động.

Các yếu tố sau sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của bể Aerotank:

Các hợp chất hóa học

Nhiều hóa chất phênol, formaldêhyt , các chất bảo vệ thực vật, thuốc sát khuẩn,… có tác dụng gây độc cho hệ vi sinh vật trong bùn hoạt tính, ảnh hưởng tới hoạt động sống của chúng, thậm chí gây chết .

Nồng độ oxi hòa tan DO

Cần cung cấp liên tục để đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hiếu khí của vi sinh vật sống trong bùn hoạt tính . Lượng oxi có thể được coi là đủ khi nước thải đầu ra bể lắng 2 có DO là 2 mg/l.

Thành phần dinh dưỡng

Chủ yếu là cacbon, thể hiện bằng BOD ( nhu cầu oxi sinh hóa ), ngoài ra còn cần có nguồn Nitơ (thường ở dạng NH4+) và nguồn Phốtpho (dạng muối Phốt phat), còn cần nguyên tố khoáng như Magiê, Canxi, Kali, Mangan, Sắt,…

+ Thiếu dinh dưỡng : tốc độ sinh trưởng của vi sinh giảm, bùn hoạt tính giảm, khả năng phân hủy chất bẩn giảm.

+ Thiếu Nitơ kéo dài : cản trở các quá trình hóa sinh, làm bùn bị phồng lên, nổi lên khó lắng .

+Thiếu Phốtpho : vi sinh vật dạng sợt phát triển làm cho bùn kết lại, nhẹ hơn nước nổi lên, lắng chậm, giảm hiệu quả xử lí.

Khắc phục : cho tỉ lệ dinh dưỡng BOD : N : P = 100 : 5 : 1. Điều chỉnh lượng bùn tuần hoàn phù hợp.

Tỉ số F/M

Thông số này chỉ ra tải trọng hữu cơ trong hệ thống bùn họat tính. F/M được kiểm sóat bằng tốc độ thải bỏ bùn họat tính. Tốc độ thải bùn càng cao, tỷ số F/M càng cao. Tỷ số

F/M thấp nghĩa là những vi sinh vật trong bể Aerotank có rất ít các chất dinh dưỡng, trong hiệu quả nhất định, dẫn đến xử lý có hiệu quả hơn.

pH

Nằm trong khỏang thích hợp là 6,5 – 8,5, nếu nằm ngoài giá trị này sẽ ảnh hưởng đến quá trình hóa sinh của vi sinh vật, quá trình tạo bùn và lắng.

Nhiệt độ

Hầu hết các vi sinh vật trong nước thải là thể ưa ấm, có nhiệt độ sinh trưởng tối đa là 400C, ít nhất là 50C. Ngoài ra còn ảnh hưởng đến quá trình hòa tan oxi vào nước và tốc độ phản ứng hóa sinh. Vì vậy nhiệt độ nứơc thải chỉ trong khỏang 6-370C, tốt nhất là 15- 370C.

K ẾT LUẬN K ết luận

Nước thải đô thị là một trong những loại nước thải góp phần không nhỏ trong vấn đề suy thóai môi trường. Nước thải của khu đô thị phát sinh chủ yếu từ nước thải sinh họat và nước thải dịch vụ. Từ quá trình họat động của khu đô thị mới Nhơn Trạch, ta có thể thấy các tiêu chuẩn nước thải ra nếu không xử lý đều lớn hơn so với tiêu chuẩn cho phép xả nhiều lần: BOD5

Luận văn nêu ra các cách xử lí nước thải và lựa chọn công nghệ xử lí phù hợp: hóa lý và cơ học ( keo tụ tạo bông kết hợp bể lắng li tâm nhằm lọai bỏ các hạ lơ lửng) - sinh học (bể aerotank kết hợp bể lắng 2 lọai bỏ thành phần hữu cơ hòa tan có trong nước) và khử trùng (vi trùng gây bệnh bị tiêu diệt trong các quá trình xử lý trên kết hợp khử trùng bằng Clo).

= 185(mg/l), COD =324(mg/l), SS =4 03(mg/l), dầu mỡ =65 (mg/l)…

Trong đó, thành phần chất thải bao gồm các chất hữu cơ hòa tan, đóng vai trò quan trọng trong nứơc thải.

Với công nghệ lựa chọn, sau khi xử lí nước xả đạt tiêu chuẩn TCVN(5945-2005) cột A trước khi đưa xả nguồn.

Ki ến nghị

Do thời gian thực hiện luận văn tường đối ngắn, các thông số tinh tóan dựa trên cơ sở tham khảo là chính. Nếu có điều kiện cần chạy thử mô hình để đạt hiệu quả chính xác cao hơn.

Đề nghị khi vận hành trạm xử lí nứơc thải, ban quản lí cần:

1/ Bảo đảm công tác quản lý và vận hành đúng theo hướng dẫn kỹ thuật.

2/ Thường xuyên quan trắc chất lượng nước thải xử lý đầu ra để kiểm tra xem có đạt điều kiện xả vào nguồnđạt TCVN(5945-2005) cột A .

Một phần của tài liệu kl le quang vu 710520b (Trang 67 - 71)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(71 trang)